Nhiều người thường khuyên nhau nhai kỹ, ăn chậm để dạ dày đỡ mệt và mong chữa dứt các bệnh tiêu hóa mạn tính. Trong số đó, hội chứng ruột kích thích (IBS) là nỗi ám ảnh thường trực gây đau bụng dai dẳng, đầy hơi và rối loạn đại tiện sau ăn.
Tuy nhiên, việc nhai kỹ giảm kích thước thức ăn có thực sự phòng ngừa hoặc ngăn chặn được hội chứng ruột kích thích hay không? Câu trả lời ngắn gọn theo khoa học là: Nhai kỹ hỗ trợ tiêu hóa chung, nhưng không có bằng chứng khoa học cho thấy nhai kỹ giúp phòng ngừa hội chứng ruột kích thích. Bản chất của chứng bệnh này gắn liền mật thiết với sự rối loạn thời gian lưu chuyển thức ăn qua ruột non, đại tràng và rối loạn dẫn truyền thần kinh thực vật chứ không chỉ đơn thuần là vấn đề cơ học từ khoang miệng.
Cơ chế vận chuyển đường ruột trong hội chứng ruột kích thích
Hội chứng ruột kích thích (IBS) theo các tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng thường biểu hiện dưới ba thể chính: thể táo bón (IBS-C), thể tiêu chảy (IBS-D) và thể hỗn hợp (IBS-M) [1]. Dù người bệnh thường cảm nhận triệu chứng rõ nhất tại đại tràng, các bất thường thực chất diễn ra khắp toàn bộ ống tiêu hóa [1], [2].
Khi thức ăn được nghiền nhỏ qua khoang miệng và dạ dày, tốc độ tháo rỗng dạ dày giữa người khỏe mạnh và người mắc hội chứng này thực tế không có sự khác biệt rõ rệt [2]. Vấn đề cốt lõi tạo ra các cơn đau thắt hoặc rối loạn đại tiện nằm ở thời gian lưu chuyển qua ruột non và đại tràng [3], [2].
Cụ thể, khi thức ăn di chuyển đến ruột, yếu tố carbohydrate không hấp thu được ghi nhận là thành phần ăn uống chính chi phối thời gian lưu chuyển ruột non [3]. Sự dịch chuyển quá nhanh tại ruột non khiến lượng lớn dịch đổ dồn về đại tràng gây tiêu chảy [3]. Đáng chú ý, ở nhiều người bệnh, cơn đau bụng dữ dội xuất hiện ngay khi bã thức ăn vừa tiến đến vùng manh tràng [2]. Điều này cho thấy đáp ứng co thắt và cảm nhận đau của thành ruột bị nhạy cảm quá mức.
Dữ liệu đo lường thời gian lưu chuyển miệng - manh tràng
Để hiểu rõ mức độ xáo trộn này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nghiệm pháp đo khí hydro trong hơi thở để xác định thời gian lưu chuyển từ miệng đến manh tràng (orocaecal transit time).
Năm 2017, một nghiên cứu trên 3 nhóm bệnh nhân IBS (mỗi nhóm 30 người, độ tuổi 27-48) và 30 người đối chứng khỏe mạnh cho thấy sự khác biệt rõ rệt [1]:
- Nhóm đối chứng khỏe mạnh có thời gian lưu chuyển trung bình là 86,3 ± 5,95 phút [1].
- Nhóm IBS thể táo bón (IBS-C) bị chậm lại rõ rệt, trung bình 95,8 ± 10,9 phút (p < 0,05) [1]. Thời gian lưu chuyển kéo dài này có mối tương quan thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh (p = 0,05) [1].
- Nhóm IBS thể tiêu chảy (IBS-D) có tốc độ tháo dỡ qua ruột tăng nhanh bất thường, trung bình chỉ còn 77,8 ± 8,21 phút (p < 0,01) [1]. Thời gian này lại tương quan nghịch với độ nặng của bệnh (p < 0,001) [1].
- Nhóm IBS thể hỗn hợp (IBS-M) có thời gian 80,6 ± 14,2 phút, không cho thấy khác biệt hay tương quan có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) [1].
Kết quả trên chứng minh rối loạn vận chuyển thức ăn tại phần trên ống tiêu hóa góp phần trực tiếp vào biểu hiện lâm sàng của bệnh [1].
Thêm vào đó, một nghiên cứu năm 1994 đánh giá thời gian lưu chuyển toàn bộ ruột và miệng - manh tràng cũng xác nhận hiện tượng này [4]. Trung vị thời gian lưu chuyển toàn bộ ruột ở 10 bệnh nhân IBS thể tiêu chảy chỉ đạt 22,2 giờ (dao động 3,6 - 51,6 giờ), ngắn hơn đáng kể so với mức 39,6 giờ (dao động 7,2 - 68,4 giờ) ở 28 người đối chứng khỏe mạnh (p < 0,05) [4]. Thời gian di chuyển từ miệng tới manh tràng của nhóm tiêu chảy này cũng bị rút ngắn còn 55 phút (dao động 30 - 90 phút) so với mức 75 phút (dao động 40 - 150 phút) ở người bình thường (p < 0,05) [4].
Bằng chứng về tốc độ lưu chuyển bữa ăn đặc và nhu động ruột non
Không chỉ dừng lại ở các dung dịch thử nghiệm, tốc độ vận chuyển đối với một bữa ăn đặc cũng bộc lộ rõ rệt sự phân hóa này.
Một nghiên cứu năm 1983 theo dõi 61 bệnh nhân IBS và 53 người khỏe mạnh đã đo lường thời gian một bữa ăn dạng đặc đi qua dạ dày, ruột non và đại tràng [2]. Kết quả cho thấy:
- Thời gian lưu chuyển ruột non ở nhóm IBS thể tiêu chảy ngắn hơn rõ rệt: 3,3 ± 0,3 giờ so với 4,2 ± 0,2 giờ ở nhóm đối chứng (p = 0,01; n = 21) [2].
- Ngược lại, nhóm IBS thể táo bón bị kéo dài thành 5,4 ± 0,3 giờ (p < 0,01; n = 23) [2].
- Nhóm bệnh nhân có biểu hiện chủ yếu là đau và chướng bụng cũng bị kéo dài thành 5,4 ± 0,4 giờ (p < 0,01; n = 17) [2].
- Thời gian lưu chuyển qua toàn bộ ruột ở nhóm tiêu chảy là 35 ± 5 giờ, thấp hơn mức 53 ± 4 giờ của người khỏe mạnh (p < 0,01) [2]. Nhóm táo bón lên tới 87 ± 13 giờ (p < 0,05) [2].
- Trong 34 bệnh nhân có triệu chứng đau bụng (đặc biệt ở vùng hố chậu phải), có đến 25 trường hợp (chiếm 74%) khởi phát cơn đau trùng khớp với thời điểm bã thức ăn chạm tới manh tràng [2].
Năm 1998, một nghiên cứu thực hiện trên người phương Đông gồm 90 bệnh nhân IBS (45 người thể táo bón, 45 người thể tiêu chảy) cùng 45 đối chứng khỏe mạnh cũng ghi nhận sự phân hóa vận chuyển tương tự tại ruột non [5]. Thời gian lưu chuyển ruột non ở nhóm táo bón là 108,4 ± 34,3 phút, nhóm tiêu chảy là 67,4 ± 19,6 phút, trong khi nhóm chứng là 85,3 ± 37,3 phút (p < 0,05) [5]. Nghiên cứu chỉ ra tuổi tác và chỉ số khối cơ thể (BMI) có mối tương quan thuận với thời gian lưu chuyển ruột non (p < 0,05) [5].
Vai trò của hệ thần kinh tự chủ và thuốc điều hòa nhu động
Những rối loạn vận chuyển trên thực chất bắt nguồn sâu xa từ trục thần kinh - ruột chứ không phải do kích thước vật lý của hạt thức ăn.
Năm 1994, nghiên cứu trên 21 bệnh nhân IBS phân loại theo tiêu chuẩn Manning cải biên đã tìm ra mối liên hệ trực tiếp giữa hệ thần kinh tự chủ với thời gian lưu chuyển đại tràng [6]. Nhóm IBS thể tiêu chảy có bất thường đối với chỉ số phản xạ giao cảm adrenergic (tỷ lệ điều chỉnh tư thế, p < 0,01) [6]. Trong khi đó, nhóm IBS thể táo bón bị giảm đáng kể giá trị khoảng R-R đối với nhánh phó giao cảm cholinergic (p < 0,05) [6]. Hai phân nhóm này cũng có thời gian lưu chuyển đại tràng trái, phải, trực tràng - xích ma khác biệt nhau [6].
Các thử nghiệm dược lý can thiệp nhu động cũng chứng minh tính nhạy cảm của hệ vận chuyển này:
- Việc sử dụng thuốc chống trầm cảm imipramine liều tăng dần đến 100 mg/ngày trong 4 ngày đã làm kéo dài thời gian lưu chuyển miệng - manh tràng và toàn bộ ruột ở 12 người đối chứng và 6 bệnh nhân thể tiêu chảy [4]. Trái lại, paroxetine 30 mg/ngày trong 4 ngày lại rút ngắn thời gian lưu chuyển miệng - manh tràng ở 10 người khỏe mạnh và 8 bệnh nhân IBS, nhưng không ảnh hưởng tới toàn bộ ruột [4].
- Thuốc octreotide (tiêm dưới da 50 microgram) làm kéo dài thời gian miệng - manh tràng ở bệnh nhân IBS và người khỏe mạnh lên 2,4 - 2,6 lần lúc đói và 2,6 - 2,8 lần sau bữa ăn chuẩn có chứa lactulose [7].
Mặt khác, trong một nghiên cứu năm 1996 trên 16 phụ nữ mắc IBS sử dụng chất cản quang, thời gian lưu chuyển đại tràng kéo dài ghi nhận ở đại tràng phải (43%), đại tràng trái (25%) và toàn bộ đại tràng (31%), nhưng không tìm thấy mối tương quan trực tiếp giữa các yếu tố tâm lý căng thẳng với tốc độ lưu chuyển đại tràng [8].
Hiểu lầm thường gặp về việc nhai kỹ
Nhiều người lầm tưởng việc nhai thật kỹ, biến thức ăn thành dạng lỏng nhuyễn có thể giúp người bệnh phòng tránh nguy cơ mắc IBS. Tuy nhiên, qua các bằng chứng khoa học:
- Tốc độ tháo rỗng dạ dày ở người bệnh IBS hoàn toàn tương đồng với người khỏe mạnh [2]. Quá trình nhào trộn cơ học ban đầu tại dạ dày vẫn diễn ra, hạt thức ăn được nhào nặn trước khi qua môn vị.
- Khởi nguồn của các triệu chứng hội chứng ruột kích thích nằm ở sự quá mẫn cảm và bất thường nhu động tại ruột non và ruột già do cơ chế thần kinh tự chủ và thụ thể ruột chi phối [1], [2], [6]. Nhai kỹ không làm thay đổi các rối loạn dẫn truyền thần kinh adrenergic hay cholinergic này [6].
- Thành phần dinh dưỡng, đặc biệt là lượng carbohydrate không tiêu hóa/hấp thu được mới là yếu tố dinh dưỡng chính quyết định thời gian lưu thông ruột non [3]. Dù thức ăn được nhai mịn đến đâu, nếu chứa các carbohydrate không thể hấp thu, chúng vẫn làm biến động nhu động ruột [3].
Nhai kỹ là một thói quen cơ học tốt cho răng miệng và hỗ trợ quá trình tiêu hóa ban đầu tại dạ dày, nhưng không phải là biện pháp phòng ngừa hay chữa trị căn nguyên của hội chứng ruột kích thích.
Ai nên thận trọng khi có triệu chứng ruột kích thích?
Do các triệu chứng của IBS rất dễ trùng lặp với các bệnh lý đường tiêu hóa nguy hiểm khác, người bệnh cần đặc biệt thận trọng:
- Người xuất hiện các cơn đau bụng vùng hố chậu phải thường xuyên sau khi ăn kèm thay đổi thói quen đại tiện [2].
- Người có triệu chứng tiêu chảy kéo dài hoặc sụt cân nhanh không rõ nguyên nhân.
- Nhóm người cao tuổi hoặc có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao, vì các yếu tố tuổi tác và thể trọng có ảnh hưởng đáng kể đến thời gian lưu thông đường ruột [5].
- Bệnh nhân tuyệt đối không tự ý dùng các loại thuốc điều hòa nhu động ruột, thuốc hướng thần kinh mà không có chỉ định từ bác sĩ chuyên khoa [4], [7].
Lời khuyên áp dụng trong chế độ ăn uống hàng ngày
Dù nhai kỹ không ngăn chặn hoàn toàn bệnh ruột kích thích, việc duy trì một chế độ ăn uống khoa học vẫn giúp giảm bớt gánh nặng tiêu hóa:
- Ăn chậm, nhai đều: Nên duy trì nhịp ăn từ tốn, tránh nuốt vội để hạn chế nuốt phải nhiều không khí gây chướng bụng.
- Theo dõi lượng carbohydrate khó hấp thu: Hạn chế các bữa ăn quá nhiều carbohydrate không thể hấp thu, vì đây là yếu tố ăn uống chính tác động lên thời gian lưu chuyển ruột non [3].
- Cân đối khẩu phần: Tránh các bữa ăn quá nhiều dầu mỡ hay ăn dồn một lượng lớn thức ăn đặc trong một lần. Việc thức ăn ứ đọng hoặc di chuyển quá nhanh tới manh tràng có thể kích hoạt cơn co thắt gây đau [2].
- Lối sống khoa học: Duy trì vận động hợp lý giúp điều hòa hệ thần kinh tự chủ và nhịp điệu sinh học của ống tiêu hóa [6].
Nhai kỹ là một thói quen ăn uống lành mạnh giúp hỗ trợ khoang miệng và dạ dày hoạt động thuận lợi hơn. Tuy nhiên, hội chứng ruột kích thích là một tình trạng phức tạp liên quan đến nhu động ruột non, đại tràng và hệ thần kinh tự chủ. Khi nghi ngờ có dấu hiệu bệnh, người dân nên đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa tiêu hóa để được chẩn đoán chính xác và tư vấn phác đồ điều trị phù hợp, không nên tự ý chữa bệnh chỉ bằng việc thay đổi cách nhai.







