Sâm cau từ lâu đã xuất hiện trong tủ thuốc gia đình của nhiều người Việt với kỳ vọng bồi bổ sức khỏe, giảm đau nhức xương khớp. Nhiều người giữ thói quen thái lát phơi khô sắc nước uống hàng ngày như trà, trong khi cánh mày râu lại ưa chuộng đem củ này ngâm rượu. Thắc mắc phổ biến đặt ra là cách chế biến nào mới thực sự chiết xuất được nhiều dưỡng chất quý trong củ sâm cau hơn.
Dựa trên các dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm về dược liệu sâm cau (tên khoa học là Curculigo orchioides), hầu hết các hoạt chất sinh học quan trọng như nhóm hợp chất phenolic và curculigoside đều được chiết xuất và chứng minh tác dụng thông qua dung môi cồn (ethanol) [1][2][3]. Ngược lại, chưa có bằng chứng trực tiếp so sánh sinh khả dụng của curculigoside trong nước sắc củ sâm cau, thậm chí dịch chiết nước từ bộ phận lá của cây này còn ghi nhận độc tính trên mô hình thí nghiệm [4].
Hoạt chất trong sâm cau và vai trò của dung môi chiết xuất
Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn., thuộc họ Amaryllidaceae) là dược liệu truyền thống được sử dụng lâu đời tại Ấn Độ và Trung Quốc [1][4]. Trong y học cổ truyền của các quốc gia này, phần thân rễ (củ) thường góp mặt trong các bài thuốc hỗ trợ điều trị rong kinh, các vấn đề phụ khoa và chứng loãng xương sau mãn kinh [1][3].
Giá trị dược lý của thân rễ sâm cau nằm ở nhóm chất chuyển hóa thứ cấp, nổi bật là các hợp chất phenolic [2][5]. Một nghiên cứu phân lập hóa học năm 2009 đã xác định được 6 hợp chất phenolic cụ thể trong thân rễ sâm cau, bao gồm: acid 2,6-dimethoxy benzoic, curculigoside A, curculigoside B, curculigine A, curculigine D và một hợp chất nhóm lignan glucopyranoside [2]. Trong đó, curculigoside A được đánh giá là hoạt chất chính mang lại tác dụng kháng viêm và chống viêm khớp [6]. Ngoài ra, phân tích quang phổ hồng ngoại (FTIR) trên dịch chiết lá cũng cho thấy sự hiện diện của các nhóm saponin, phenolic và alkaloid [4].
Về nguyên tắc dược học, cấu trúc hóa học của từng chất sẽ quyết định khả năng hòa tan của chúng trong các dung môi khác nhau như nước, cồn hay dung môi hữu cơ [2][7]. Các thử nghiệm đánh giá tác dụng sinh học của thân rễ sâm cau trên tế bào và động vật hầu hết sử dụng dịch chiết cồn (ethanol hoặc methanol) hoặc các phân đoạn dung môi hữu cơ như ethylacetate để thu giữ hoạt chất [1][2][6][7]. Điều này cho thấy nhóm phenolic và curculigoside trong củ sâm cau có ái lực tốt với dung môi cồn.
Các nghiên cứu về dịch chiết cồn từ củ sâm cau nói gì?
Nhiều công trình khoa học đã kiểm chứng hoạt tính sinh học của dịch chiết ethanol từ thân rễ sâm cau trên mô hình động vật và tế bào [1][8][2][3].
Một nghiên cứu công bố năm 2007 đã đánh giá hoạt tính tương tự hormone estrogen của dịch chiết cồn thân rễ sâm cau trên chuột cống trắng non đã cắt bỏ hai buồng trứng [1]. Chuột thí nghiệm được chia làm 5 nhóm, mỗi nhóm 9 con, uống dung dịch thử nghiệm mỗi ngày trong 7 ngày liên tiếp [1]. Ba nhóm dùng dịch chiết ethanol sâm cau ở các mức liều 300, 600 và 1200 mg/kg trọng lượng cơ thể, so sánh với nhóm chứng và nhóm dùng thuốc chuẩn diethylstilbestrol (liều 2 mg/kg) [1]. Kết quả cho thấy dịch chiết cồn làm tăng đáng kể tỷ lệ sừng hóa âm đạo, tăng trọng lượng ướt tử cung, tăng hàm lượng glycogen tử cung (P<0,001) và kích thích tăng sinh nội mạc tử cung so với nhóm chứng [1].
Tác dụng bảo vệ xương của dịch chiết ethanol thân rễ sâm cau tiếp tục được chứng minh trong một nghiên cứu năm 2008 trên 60 con chuột cái Sprague-Dawley 4,5 tháng tuổi [3]. Những con chuột bị cắt buồng trứng được chia nhóm và cho uống dịch chiết ethanol sâm cau ở các liều 0,5 g/kg, 1,0 g/kg và 2,0 g/kg trong suốt 12 tuần [3]. Kết quả đo mật độ khoáng xương bằng phương pháp chụp cắt lớp định lượng ngoại vi (pQCT) cho thấy dịch chiết ethanol ngăn ngừa tình trạng mất xương ở vùng xương xốp của xương chày mà không làm thay đổi trọng lượng cơ thể hay trọng lượng tử cung [3]. Về mặt sinh hóa, dịch chiết này làm tăng nồng độ photpho, canxi và osteoprotegerin (OPG) trong huyết thanh, đồng thời giảm các chỉ số hủy xương như DPD/Cr, enzyme TRAP, hormone ACTH và corticosterone [3]. Nhóm nghiên cứu kết luận dịch chiết ethanol sâm cau bảo vệ xương thông qua cơ chế ức chế quá trình hủy xương thay vì tác động trực tiếp lên quá trình tạo xương, tuy nhiên cần thêm nghiên cứu để làm rõ thành phần hóa học thực sự và cơ chế tác động của chúng [3].
Để làm rõ vai trò của từng hoạt chất, một nghiên cứu năm 2009 đã thử nghiệm trực tiếp dịch chiết ethanol cùng 6 hợp chất phenolic phân lập từ sâm cau trên môi trường nuôi cấy nguyên bào tạo xương (lấy từ xương vòm sọ chuột sơ sinh) và tế bào hủy xương đa nhân (từ tủy xương chuột) [2]. Kết quả ghi nhận dịch chiết ethanol và cả 6 hợp chất phenolic (bao gồm curculigoside A và B) đều kích thích sự tăng sinh của tế bào tạo xương [2]. Riêng dịch chiết ethanol, curculigoside A, curculigoside B và hai hợp chất khác còn làm giảm diện tích hố hủy xương, giảm sự hình thành tế bào hủy xương và ức chế hoạt tính enzyme TRAP [2].
Bên cạnh hệ xương và nội tiết, một nghiên cứu năm 2008 đã khảo sát tác dụng chống hen suyễn của dịch chiết ethanol thân rễ sâm cau trên cả mô hình trong ống nghiệm (in vitro) và trên cơ thể sống (in vivo) [8]. Trên chuỗi khí quản dê và hồi tràng chuột lang cô lập, dịch chiết đạt hiệu quả làm giãn cơ tối đa trước sự co thắt do histamine gây ra ở nồng độ lần lượt là 100 microgam/ml và 25 microgam/ml (p<0,01) [8]. Khi thử nghiệm trên chuột lang bị co thắt phế quản, chuột cống bị phản vệ bàn chân và chuột nhắt bị giữ nguyên tư thế do haloperidol, dịch chiết bảo vệ có ý nghĩa thống kê ở các mức liều thấp, nhưng khi tăng liều cao hơn thì hoạt tính lại giảm đi [8]. Ở mức liều uống 375 mg/kg trọng lượng cơ thể, dịch chiết làm tăng tối đa lượng bạch cầu và tế bào lympho lên 99%, đồng thời giảm tỷ lệ bạch cầu ái toan xuống tới 0% [8].
Ngoài ra, bài tổng quan cập nhật năm 2021 cho biết hoạt chất chính curculigoside A giảm sưng bàn chân sau, hạ chỉ số viêm khớp và giảm các yếu tố gây viêm trong máu như IL-6, IL-1beta, PGE2, TNF-alpha trên hai mô hình chuột bị viêm khớp do chất bổ trợ FCA và collagen tuýp II [6]. Dịch chiết cồn của sâm cau cũng thể hiện khả năng kháng khuẩn đối với chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa kháng methicillin với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) là 49 microgam/mL, nhưng không có tác dụng trên vi khuẩn gram âm [6].
Bằng chứng về dịch chiết nước và các hệ dung môi pha trộn
Trong khi dịch chiết cồn từ củ sâm cau được nghiên cứu dày đặc, dữ liệu về việc dùng nước để chiết xuất lại rất hạn chế và mang lại những cảnh báo đáng lưu ý [4][7].
Một nghiên cứu sơ bộ công bố năm 2022 đã đánh giá độc tính của dịch chiết nước từ lá sâm cau trên mô hình ruồi giấm (Drosophila melanogaster) [4]. Ấu trùng và ruồi trưởng thành được tiếp xúc với các nồng độ dịch chiết nước lá sâm cau khác nhau qua thức ăn [4]. Kết quả cho thấy việc phơi nhiễm trong giai đoạn phát triển làm giảm tỷ lệ ruồi nở và gây dị dạng cánh ở những cá thể nở ra [4]. Ở ruồi trưởng thành, dịch chiết nước lá sâm cau làm suy giảm đáng kể khả năng sinh sản và rút ngắn tuổi thọ của sinh vật thông qua các biểu hiện độc tính tế bào như thay đổi protein sốc nhiệt (hsps), tăng gốc tự do (ROS) và gây chết tế bào [4]. Từ kết quả này, các nhà khoa học bày tỏ sự lo ngại về thói quen sử dụng bừa bãi các dịch chiết thực vật để trị bệnh khi chưa rõ độc tính [4].
Một nghiên cứu khác năm 2018 đã so sánh hoạt tính chống oxy hóa và ức chế tế bào ung thư (trên các dòng tế bào gan HepG2, cổ tử cung HeLa và vú MCF-7) giữa phân đoạn dung môi ethylacetate nguyên chất (EA) và phân đoạn ethylacetate pha nước (AEA) của cây sâm cau [7]. Trong thử nghiệm quét gốc tự do DPPH, phân đoạn EA đạt giá trị IC50 (nồng độ ức chế 50%) là 52,93 ± 0,66 microgam/ml [7]. Đáng chú ý, trên thử nghiệm độc tế bào MTT, phân đoạn có pha nước (AEA) đạt hiệu quả ức chế tế bào ung thư ở nồng độ thấp hơn so với phân đoạn EA thuần túy: giá trị IC50 của phân đoạn AEA trên dòng tế bào HepG2, HeLa và MCF-7 lần lượt là 133,44 ± 1,1 microgam/ml, 136,50 ± 0,8 microgam/ml và 145,09 microgam/ml; trong khi ở phân đoạn EA, các con số này lần lượt là 171,23 ± 2,1 microgam/ml, 144,80 ± 1,08 microgam/ml và 153,51 microgam/ml [7]. Cả hai phân đoạn này đều thúc đẩy quá trình tự chết của tế bào khối u thông qua việc giảm biểu hiện protein Bcl-2 và tăng protein caspase-3, caspase-8 [7].
Năm 2022, một nghiên cứu khác tại Ấn Độ cũng xác nhận dịch chiết ethanol từ thân rễ sâm cau có hoạt tính bảo vệ tế bào gan phụ thuộc liều lượng khi thử nghiệm trên dòng tế bào HEP-G2, đồng thời thể hiện độc tính tiêu diệt tế bào ung thư HeLa và HEP-G2 với nồng độ IC50 nhỏ hơn hoặc bằng 100 microgam/mL [5].
Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng hiện tại
Tổng hợp các tài liệu trên cho thấy cồn (ethanol) là dung môi tiêu chuẩn giúp hòa tan và thu nhận thành công curculigoside cùng các hợp chất phenolic từ củ sâm cau, mang lại hiệu quả rõ rệt trên hệ xương, nội tiết, hô hấp và kháng viêm trong các thử nghiệm tiền lâm sàng [1][8][2][3][6]. Việc kết hợp dung môi hữu cơ và nước ở tỷ lệ phòng thí nghiệm cũng cho thấy tiềm năng thu giữ các hoạt chất chống oxy hóa [7].
Tuy nhiên, giới hạn lớn nhất của toàn bộ các bằng chứng này là tất cả mới chỉ dừng lại ở mô hình trong ống nghiệm (tế bào nuôi cấy, mô cô lập) và trên động vật thí nghiệm (chuột cống, chuột nhắt, chuột lang, ruồi giấm) [1][8][4][2][7]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên người được đề cập trong các tài liệu này để khẳng định việc uống rượu ngâm sâm cau hay nước sắc củ sâm cau ở người sẽ đạt được tỷ lệ hấp thu và hiệu quả tương tự. Hơn nữa, dịch chiết ethanol trong phòng thí nghiệm đã được cô đặc và chuẩn hóa liều lượng theo trọng lượng cơ thể, hoàn toàn khác với bình rượu ngâm thủ công tại nhà [1][3].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng sâm cau
Hiểu lầm phổ biến thứ nhất là cho rằng dùng càng đặc, liều càng cao thì càng bổ. Thực tế nghiên cứu chống hen suyễn năm 2008 trên động vật đã chỉ ra một hiện tượng ngược lại: dịch chiết ethanol sâm cau phát huy tác dụng bảo vệ tốt ở các mức liều thấp, nhưng khi tiếp tục tăng liều lên cao thì hoạt tính sinh học lại suy giảm [8].
Hiểu lầm thứ hai là tận dụng toàn bộ cây sâm cau từ lá đến củ để nấu nước uống vì nghĩ thảo dược tự nhiên hoàn toàn lành tính. Nghiên cứu năm 2022 đã chứng minh dịch chiết nước từ phần lá sâm cau gây độc tính tế bào, làm dị dạng, giảm khả năng sinh sản và giảm tuổi thọ trên mô hình ruồi giấm [4]. Bản thân dịch chiết ethanol từ thân rễ sâm cau cũng có hoạt tính gây độc tế bào mạnh ở nồng độ nhất định (IC50 <= 100 microgam/mL) [5].
Ai nên thận trọng khi sử dụng sâm cau?
Do dịch chiết cồn từ củ sâm cau thể hiện hoạt tính tương tự hormone estrogen khá mạnh, làm tăng trọng lượng tử cung và gây tăng sinh nội mạc tử cung trên động vật, những phụ nữ có các bệnh lý nhạy cảm với nội tiết tố hoặc tăng sinh bất thường ở tử cung cần hết sức thận trọng [1]. Phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú không nên tự ý sử dụng do nguy cơ ảnh hưởng đến nội tiết và cảnh báo về độc tính phát triển phôi thai từ nghiên cứu trên mô hình sinh vật [1][4].
Những người có bệnh lý gan, thận mạn tính hoặc người kiêng rượu bia cũng không phù hợp với hình thức dùng sâm cau ngâm rượu. Dù dịch chiết ethanol đã tách cồn trong phòng thí nghiệm có tính năng bảo vệ tế bào gan, nhưng việc đưa một lượng lớn cồn từ rượu ngâm vào cơ thể trong đời sống thực tế lại là gánh nặng trực tiếp cho gan [5]. Người đang điều trị bệnh nền hoặc đang uống thuốc tây y cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng để tránh tương tác bất lợi.
Gợi ý cách áp dụng thực tế và an toàn
Nếu xét thuần túy về khả năng hòa tan hoạt chất phenolic và curculigoside từ phần củ, môi trường có cồn (như rượu) giúp chiết xuất hoạt chất hiệu quả hơn so với việc chỉ đun với nước lọc thông thường [2][3]. Tuy nhiên, rượu thuốc chỉ nên được xem là một dạng dẫn xuất hỗ trợ với lượng dùng hết sức tiết chế, tính bằng từng chén nhỏ trong bữa ăn, tuyệt đối không dùng rượu ngâm sâm cau để uống giải khát hay lạm dụng trên bàn nhậu.
Khi chế biến, người dùng chỉ nên sử dụng phần thân rễ (củ) đã được làm sạch, loại bỏ hoàn toàn phần lá để tránh nguy cơ nhiễm các chất gây độc tính tế bào hòa tan trong nước [1][4]. Không nên tự ý kết hợp sâm cau với quá nhiều loại rễ cây không rõ nguồn gốc khác trong cùng một bình ngâm hay ấm sắc.
Nhìn chung, dung môi cồn giúp chiết xuất các hoạt chất quý như curculigoside trong củ sâm cau tốt hơn, nhưng hiệu quả sinh học lại phụ thuộc chặt chẽ vào liều lượng và cách dùng [8][2]. Thay vì tự ý sắc đặc hay uống rượu ngâm vô độ, người dân nên giữ chế độ dinh dưỡng cân bằng, vận động hợp lý và hỏi ý kiến bác sĩ Đông - Tây y trước khi dùng sâm cau để bồi bổ sức khỏe.
