Cây ban tròn (Hypericum patulum), thuộc chi Ban (Hypericum), là cây thuốc dân gian được quan tâm nhiều gần đây. Người dùng thường băn khoên liệu loài cây này có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, chống nhiễm trùng như lời đồn. Thực tế khoa học ghi nhận cây chứa nhiều hoạt chất sinh học, nhưng bằng chứng kháng khuẩn lâm sàng vẫn cần xem xét kỹ.
Khảo sát phòng thí nghiệm cho thấy chi Ban chứa nhóm hợp chất xanthone với nhiều tác dụng sinh học. Tuy nhiên, hoạt tính kháng khuẩn của ban tròn mới dừng ở mức chiết xuất tế bào và thử nghiệm ống nghiệm.
Cơ chế tác động của nhóm xanthone
Xanthone là hợp chất polyphenol tự nhiên phổ biến trong các loài thực vật họ Ban. Cấu trúc hóa học của chúng gồm nhân tricyclic gắn các nhóm chức khác nhau. Vị trí và số lượng nhóm hydroxyl (-OH) trên khung xanthone quyết định mức độ can thiệp vào vách tế bào vi khuẩn [1].
Nghiên cứu gợi ý các polyhydroxylated xanthone có khả năng ức chế vi khuẩn Gram dương đa kháng thuốc [1]. Chúng can thiệp vào tính thấm màng tế bào, ức chế enzyme quan trọng hoặc phối hợp cùng kháng sinh để vô hiệu hóa mầm bệnh [1].
Bằng chứng hóa thực vật trên cây ban tròn
Năm 1999, các nhà khoa học phân lập được hai glycoside xanthone mới từ nuôi cấy huyền phù tế bào của cây ban tròn, đặt tên là patuloside A và patuloside B [2]. Nghiên cứu cấu trúc xác định patuloside A là 3-beta-D-glucopyranosyloxy-1,5,6-trihydroxy-9H-xanthene-9-one và patuloside B là 3-(2-O-alpha-L-rhamnopyranosyl-beta-D-glucopyranosyl)oxy-1,5,6-trihydroxy-9H-xanthene-9-one [2].
Đến năm 2023, phân tích quả của cây ban tròn tìm thấy 4 xanthone glucoside mới [3]. Các chất gồm:
- 3-hydroxy-2-methoxyxanthone-4-O-beta-D-glucopyranoside (hợp chất 1) [3].
- 4,8-dihydroxy-2-methoxyxanthone-3-O-beta-D-glucopyranoside (hợp chất 2) [3].
- 2-methoxyxanthone-5-O-beta-D-glucopyranoside (hợp chất 3) [3].
- 4-hydroxy-2-methoxyxanthone-3-O-beta-D-glucopyranoside (hợp chất 4) [3].
Ngoài ra, quả ban tròn còn chứa một acid phenolic mới là 4,4'-dihydroxy-3,3'-imino-di-benzoic acid monomethyl ester và một isoquinoline mới [3]. Khi thử nghiệm hoạt tính chống viêm trên tế bào RAW 264.7, hợp chất 2 và 3 ức chế tạo NO cảm ứng bởi LPS ở mức độ trung bình [3].
Bên cạnh đó, năm 2005, thử nghiệm trên chuột ghi nhận 22 xanthone từ các cây họ Guttiferae, gồm cả Hypericum patulum, có tác dụng ức chế hạ huyết áp do yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (PAF) [4]. Các chất như guanandin, caloxanthone E, 1,3,5,6-tetrahydroxy-2-isoprenylxanthone, 6-deoxyjacareubin và patulone ức chế hơn 60% hiện tượng hạ huyết áp do PAF, có giá trị ID50 cao hơn ginkgolide B [4].
Hoạt tính kháng khuẩn từ các loài cùng chi Hypericum
Dữ liệu kháng khuẩn trực tiếp trên chủng vi khuẩn nguy hiểm chủ yếu đến từ các loài cùng chi Ban. Nghiên cứu năm 2011 trên cây Hypericum sampsonii phân lập được hai prenylated xanthone mới là hypericumxanthone A và B [5]. Thử nghiệm in vitro trên tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) cho kết quả rõ ràng:
- Hypericumxanthone A có nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) là 16 microg/mL [5].
- Hypericumxanthone B có MIC là 32 microg/mL [5].
- Thuốc đối chứng vancomycin đạt MIC 8 microg/mL [5].
Các xanthone khác trong nghiên cứu này không có hoạt tính chống lại MRSA [5]. Hypericumxanthone B cũng thể hiện độc tính tế bào yếu trên 4 dòng tế bào ung thư người gồm MCF-7, HepG2, HT-29 và A549 [5].
Khả năng kháng nấm liên quan
Ngoài vi khuẩn, chiết xuất xanthone từ chi Ban còn được thử nghiệm trên vi nấm. Nghiên cứu năm 2015 trên rễ nuôi cấy của nhiều loài Hypericum cho thấy chiết xuất rễ H. annulatum và rễ tóc H. tetrapterum, H. tomentosum ức chế nấm Candida albicans chủng ATCC 10231 với MIC từ 64 đến trên 256 microg/ml [6]. Rễ tóc H. tomentosum và H. tetrapterum ức chế 90% nấm Candida ở liều 256 microg/ml [6].
Năm 2016, chiết xuất methanol giàu xanthone (2,86 +- 0,43 mg/g trọng lượng khô) từ rễ Hypericum perforatum đạt nồng độ ức chế tối thiểu 16 microg/mL đối với tế bào trôi nổi của vi nấm Malassezia furfur [7]. Ở nồng độ 16 microg/mL, chiết xuất ức chế từ 14% đến 39% sự hình thành màng sinh học biofilm [7]. Nghiên cứu năm 1996 trên rễ Hypericum roeperanum cũng ghi nhận một số xanthone có hoạt tính chống Candida albicans [8].
Hiểu lầm thường gặp
Nhiều người lầm tưởng uống nước sắc ban tròn trị dứt điểm nhiễm trùng vi khuẩn. Đây là ngộ nhận nguy hiểm.
Thứ nhất, nồng độ hoạt chất xanthone tự nhiên trong dược liệu thô rất thấp. Quá trình đun nấu thông thường khó đạt nồng độ ức chế vi khuẩn như các thử nghiệm phân lập trong phòng lab [1, 2].
Thứ hai, kết quả ống nghiệm (in vitro) không đồng nghĩa tác dụng trong cơ thể sống (in vivo). Xanthone cần qua hấp thu, chuyển hóa tại gan và phân bố đến mô nhiễm khuẩn mà không bị mất hoạt tính hay gây độc [1, 5]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh dùng ban tròn thay thế được kháng sinh chuẩn.
Ai nên thận trọng
Người bệnh đang nhiễm khuẩn cấp tính, sốt cao, nhiễm trùng huyết không tự ý dùng thảo dược thay thuốc đặc trị. Việc chậm trễ dùng kháng sinh chuẩn dẫn đến biến chứng nguy hiểm.
Phụ nữ mang thai, người cho con bú và trẻ nhỏ cần tránh dùng vì thiếu dữ liệu an toàn. Do xanthone trong ban tròn có hoạt tính ức chế hạ huyết áp do PAF và tương tác thụ thể [4], người có bệnh tim mạch, huyết áp hoặc đang dùng thuốc chống đông máu cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
Ứng dụng thực tế
Hiện nay, ban tròn chủ yếu được dùng trong y học cổ truyền theo dạng sắc hoặc bôi ngoài da theo chỉ định của thầy thuốc có chuyên môn.
Không tự ý hái cành lá tươi dùng đắp lên vết thương hở sâu hoặc vết loét lớn để tránh bội nhiễm vi khuẩn từ bên ngoài. Nếu có triệu chứng viêm nhiễm, người bệnh cần đi khám chuyên khoa để làm kháng sinh đồ khi cần thiết. Các chiết xuất từ chi Ban chỉ nên xem là nguồn tham khảo nghiên cứu tìm kiếm hoạt chất mới hỗ trợ y học tương lai [1].
Nhìn chung, ban tròn chứa nhiều hoạt chất nhóm xanthone có tiềm năng sinh học đa dạng [2, 4, 6]. Tuy nhiên, các bằng chứng kháng khuẩn mạnh mẽ mới tập trung ở các chất tinh khiết trong ống nghiệm [1, 5]. Người bệnh tuyệt đối không bỏ phác đồ điều trị y khoa để dùng dược liệu thô trị bệnh nhiễm khuẩn.








