Dung dịch povidone-iodine (PVP-I) là loại thuốc sát khuẩn màu nâu đỏ quen thuộc trong tủ thuốc gia đình và phòng phẫu thuật. Nhiều người thường mặc định dung dịch bôi ngoài da chỉ nằm yên trên bề mặt biểu bì, không thể ngấm sâu vào tuần hoàn máu.
Iodine bôi ngoài da thực tế có thể ngấm qua hàng rào biểu mô đi vào dòng máu. Với người lớn khỏe mạnh, lượng hấp thu này thường được thận đào thải nhanh chóng; tuy nhiên ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ hoặc người có tổn thương da rộng, nồng độ iodine tăng vọt có thể gây ức chế tuyến giáp tạm thời hoặc suy chức năng chuyển hóa.
Cơ chế ngấm qua da của dung dịch sát khuẩn
Povidone-iodine là phức hợp của polyvinylpyrrolidone và iodine nguyên tố. Khi bôi lên bề mặt cơ thể, iodine tự do giải phóng từ từ để tiêu diệt vi khuẩn, nấm và virus thông qua cơ chế oxy hóa tế bào sinh vật.
Iodine tự do có kích thước phân tử nhỏ và khả năng hòa tan qua màng tế bào. Khi tiếp xúc với vùng da mỏng, niêm mạc hoặc vết thương hở, phân tử này dễ dàng vượt qua lớp sừng bảo vệ để đi thẳng vào mao mạch trung bì [4, 5].
Hàng rào da ở trẻ nhỏ chưa hoàn thiện, lớp biểu bì mỏng hơn người lớn rất nhiều và tỷ lệ diện tích bề mặt cơ thể so với cân nặng lại rất cao [4, 5]. Khi iodine tự do ồ ạt tiến vào huyết tương, nồng độ iodine toàn thân tăng đột biến, tác động thẳng lên trục tuyến yên - tuyến giáp và chức năng thận [1].
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: Vùng nguy cơ hấp thu cao
Nhiều nghiên cứu y khoa ghi nhận nguy cơ ngấm iodine toàn thân rõ rệt ở đối tượng nhi khoa.
Nghiên cứu tiến hành năm 1991 khảo sát transcutaneous absorption trên 17 trẻ sơ sinh và nhũ nhi dưới 3 tháng tuổi trải qua phẫu thuật lồng ngực hoặc tim kín [1]. Trong đó, 15 trẻ được sát trùng da bằng povidone-iodine trên diện tích chiếm 20% đến 30% diện tích bề mặt cơ thể, 2 trẻ còn lại làm nhóm chứng không tiếp xúc với hợp chất chứa iodine [1].
Kết quả xét nghiệm máu cho thấy nồng độ iodine toàn phần trong huyết tương của 15 trẻ bôi thuốc tăng vọt gấp 4 lần so với mức nền trước mổ, với biên độ tăng dao động từ 160% đến 1.440% [1]. Mức tăng vọt này duy trì khác biệt có ý nghĩa thống kê tại các mốc 6, 12, 18 và 24 giờ sau mổ [1]. Nhóm 2 trẻ không dùng PVP-I hoàn toàn không có hiện tượng tăng iodine huyết tương [1]. Nghiên cứu nhấn mạnh iodine huyết tương ở mức quá cao tiềm ẩn nguy cơ gây suy thận, toan chuyển hóa và ức chế tuyến giáp [1].
Nghiên cứu theo dõi suốt 10 năm công bố năm 2010 đánh giá biện pháp bôi povidone-iodine bảo tồn lên túi thoát vị rốn khổng lồ ở 6 trẻ sơ sinh [2]. Trẻ được kiểm tra chức năng giáp định kỳ hằng tuần khi nằm viện và hằng tháng sau khi xuất viện [2].
Có 5 trẻ duy trì bình giáp trong suốt thời gian theo dõi ngoại trú, không cần bổ sung hormone và đạt mục tiêu đóng thành bụng không cần đặt tấm lưới nhân tạo [2]. Một trẻ bị suy giáp kéo dài và sau đó tử vong do biến chứng tim, nhưng kết quả sàng lọc sơ sinh của trẻ này đã gợi ý suy giáp bẩm sinh từ trước [2]. Các bất thường nội tiết tạm thời ghi nhận ở trẻ nội trú đều tự bình thường hóa ở lần xét nghiệm tiếp theo [2]. Khi túi thoát vị khô và hóa sẹo, tác động hấp thu iodine toàn thân giảm về mức tối thiểu [2].
Bệnh nhân bỏng và vết thương hở diện rộng
Bên cạnh trẻ nhỏ, người bị mất lớp da bảo vệ toàn vẹn cũng đối mặt với lượng iodine ngấm vào cơ thể lớn.
Nghiên cứu công bố năm 1985 theo dõi 33 bệnh nhân bỏng được điều trị ngoài da bằng chế phẩm povidone-iodine (dạng mỡ và dung dịch) [3]. Kết quả phân tích cho thấy cơ thể người bệnh hấp thu ồ ạt một lượng lớn iodine, dẫn đến thay đổi tạm thời nồng độ hormone tuyến giáp: T3 và T4 giảm xuống, trong khi TSH tăng lên [3].
Các tác giả không ghi nhận thêm tác dụng phụ lâm sàng hay biến đổi sinh hóa nào khác trên nhóm bệnh nhân này [3]. Kiểm tra kích thích TRH thực hiện trên 18 bệnh nhân ở thời điểm 3 đến 6 tháng sau khi ngừng thuốc cho thấy trục hạ đồi - tuyến yên điều hòa bình thường trở lại [3]. Việc bôi povidone-iodine diện rộng khiến bệnh nhân phơi nhiễm lượng lớn iodine nhưng không tạo thêm rủi ro nguy hiểm lâu dài [3].
Ngay cả người lớn da lành lặn vẫn hấp thu iodine
Nhiều người cho rằng da người lớn dày dặn sẽ ngăn hoàn toàn hóa chất ngấm vào bên trong. Các thử nghiệm lâm sàng phẫu thuật đã phủ nhận quan niệm này [3, 5].
Một thử nghiệm năm 2005 tại Nhật Bản khảo sát 68 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp được phẫu thuật cắt giáp toàn phần, duy trì chế độ ăn hạn chế iodine [4]. Nhóm A gồm 47 người được sát trùng da một lần duy nhất trước mổ bằng povidone-iodine; nhóm B gồm 21 người được sát trùng bằng chlorhexidine gluconate không chứa iodine [4].
Kết quả cho thấy ở nhóm sát khuẩn bằng PVP-I, lượng iodine bài tiết qua nước tiểu trong ngày đầu tiên sau phẫu thuật tăng vọt gấp 7 lần so với trước mổ, đồng thời lượng iodine hấp thu tỷ lệ thuận với thời gian ca phẫu thuật kéo dài [3, 5]. Chỉ số này trở về bình thường sau 3 đến 5 ngày [4]. Nhóm dùng chlorhexidine hoàn toàn không tăng iodine niệu, dao động ở mức 54 đến 193 microg/g creatinine vào ngày thứ 3 [4].
Nghiên cứu cắt ngang năm 2023 trên 37 bệnh nhân ung thư tuyến giáp nhú cắt giáp toàn phần cũng ghi nhận kết quả tương tự [5]. Nhóm 20 bệnh nhân sát trùng ngoài da bằng PVP-I có nồng độ iodine niệu tăng tối đa gấp 2 lần vào tuần thứ 4 và mất tới 8 tuần sau can thiệp mới trở về mức trước phẫu thuật [5]. Ngược lại, nhóm 17 người dùng chlorhexidine gluconate giảm bài tiết iodine niệu đều đặn do tuân thủ chế độ ăn giảm iod [5].
Tại các vị trí niêm mạc như lòng trực tràng, nghiên cứu năm 2000 trên 30 bệnh nhân phẫu thuật ung thư trực tràng và đại tràng sigma được thụt rửa bằng PVP-I ghi nhận nồng độ iodine toàn phần trong huyết thanh tăng đáng kể (đạt đỉnh sau 1 đến 6 giờ) [6]. Tuy nhiên, điện giải và các hormone T3, T4, TSH không bị xáo trộn bệnh lý, chứng minh việc dùng đơn liều trong lòng ruột có nguy cơ độc tính rất thấp [6].
Nghiên cứu năm 1986 trên bệnh nhân chạy thận nhân tạo và lọc màng bụng mạn tính cho thấy nồng độ iodine vô cơ tăng ở gần 90% bệnh nhân dùng PVP-I sát trùng [7]. Tuy nhiên, các rối loạn hormone giáp phổ biến ở nhóm này không bắt nguồn trực tiếp từ lượng iodine tích tụ hay thói quen bôi PVP-I định kỳ [7].
Hiểu lầm thường gặp khi dùng cồn đỏ sát trùng
Quan niệm phổ biến nhất là thuốc bôi ngoài da chỉ diệt khuẩn tại chỗ, tuyệt đối không ngấm vào máu. Dữ liệu y khoa khẳng định iodine hấp thu rõ qua biểu bì lành lặn ở người lớn và ngấm rất mạnh qua da trẻ em hoặc vết bỏng [1, 3, 4, 5].
Quan niệm thứ hai là bôi povidone-iodine diện rộng càng lâu thì sát khuẩn vết thương càng sạch mà không gây hại. Iodine tích tụ liều cao trong máu từ các đợt bôi kéo dài diện rộng có thể gây toan chuyển hóa, suy giảm chức năng giáp trạng tạm thời hoặc ức chế hoạt động của thận [1].
Quan niệm thứ ba cho rằng lượng iodine ngấm qua da sẽ biến mất ngay khi lau sạch bề mặt. Nghiên cứu theo dõi cho thấy quá trình bài tiết lượng iodine dư thừa qua thận có thể kéo dài từ vài ngày cho đến 8 tuần tùy thuộc vào liều lượng tiếp xúc và cơ địa [3, 7].
Nhóm đối tượng cần thận trọng cao độ
Trẻ sơ sinh và nhũ nhi dưới 3 tháng tuổi là nhóm nhạy cảm nhất do da mỏng, tính thấm biểu bì rất cao và diện tích da lớn so với trọng lượng cơ thể [4, 5]. Tiếp xúc PVP-I diện rộng dễ khiến nồng độ iodine máu tăng gấp nhiều lần, đe dọa chức năng giáp [1].
Người bị tổn thương mất biểu bì rộng như vết bỏng sâu diện tích lớn không nên tự ý bôi PVP-I kéo dài không kiểm soát [1, 5]. Lượng iodine hấp thu ồ ạt qua nền vết thương hở có thể làm giảm T3, T4 và tăng vọt TSH huyết thanh [3].
Bệnh nhân chuẩn bị điều trị phóng xạ hoặc chẩn đoán xạ hình tuyến giáp cần lưu ý đặc biệt [3, 5]. Lượng iodine ngấm qua da khi sát trùng phẫu thuật tồn lưu nhiều tuần trong cơ thể, có thể làm sai lệch kết quả xạ hình hoặc cản trở hiệu quả hấp thu phóng xạ điều trị ung thư giáp [3, 5, 7].
Bệnh nhân suy giảm chức năng thận hoặc đang lọc máu cần thông báo với nhân viên y tế trước khi dùng thường quy trên vết loét hở, do việc đào thải iodine phụ thuộc trực tiếp vào hệ bài tiết [4, 8].
Hướng dẫn sử dụng an toàn trong thực tế
Chỉ sử dụng dung dịch povidone-iodine để xử lý các vết rách nông, trầy xước nhỏ hoặc sát khuẩn nhanh xung quanh bờ vết thương theo đúng diện tích tổn thương thực tế.
Không tự ý đổ dung dịch lên các vết thương trợt loét quá lớn, vết bỏng diện rộng hoặc dùng băng gạc tẩm PVP-I quấn kín toàn thân kéo dài ngày mà không có chỉ định từ bác sĩ chuyên khoa [1, 4].
Hạn chế dùng PVP-I liên tục cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ tại nhà; ưu tiên các dung dịch sát trùng thay thế không chứa hợp chất iodine (như chlorhexidine) khi cần xử lý rốn hoặc da cho bé, trừ khi có chỉ định cụ thể của bác sĩ [3, 4, 7].
Sau khi bôi thuốc sát trùng đủ thời gian phát huy tác dụng trên da lành trước các thủ thuật thông thường, có thể lau sạch lượng thuốc thừa bằng nước muối sinh lý vô khuẩn để giảm thiểu lượng hóa chất bám dính thấm dần qua biểu bì [4].
Povidone-iodine là hoạt chất sát trùng tại chỗ an toàn, tin cậy khi dùng đúng chỉ định trên các tổn thương khu trú nhỏ. Tuy nhiên, tính thấm qua biểu mô của iodine là hiện tượng sinh học có thật, đòi hỏi người dùng cần cẩn trọng khi áp dụng cho trẻ sơ sinh, vùng bỏng rộng hay người bệnh chuẩn bị can thiệp tuyến giáp. Khi gặp vết thương sâu, trợt loét diện rộng hoặc có tiền sử bệnh lý chuyển hóa, bạn nên tham khảo ý kiến nhân viên y tế thay vì tự ý dùng thuốc kéo dài.







