Nhiều gia đình hiện nay lựa chọn cho con nhỏ ăn theo các chế độ ăn kiêng khắt khe, nổi bật là chế độ thực dưỡng (macrobiotic) với niềm tin giúp thanh lọc cơ thể và tăng cường sức khỏe tự nhiên. Các bữa ăn này chủ yếu xoay quanh ngũ cốc nguyên hạt, các loại đậu và rau củ, đồng thời cắt giảm hoàn toàn thịt, cá, trứng và sữa động vật. Tuy nhiên, việc áp dụng chế độ ăn thiếu cân bằng này cho trẻ đang tuổi lớn tiềm ẩn nhiều hiểm họa khôn lường đối với sự phát triển của hệ xương.
Liệu trẻ ăn thực dưỡng nghiêm ngặt có thực sự an toàn? Câu trả lời từ các bằng chứng y khoa là không: trẻ nhỏ áp dụng chế độ thực dưỡng đối mặt với nguy cơ còi xương, thiếu hụt nghiêm trọng vitamin D, canxi và suy giảm phát triển chiều cao không thể đảo ngược [1], [2].
Bản chất của bệnh còi xương và cơ chế tác động tiêu cực từ thực dưỡng
Còi xương do dinh dưỡng (nutritional rickets) là tình trạng khiếm khuyết quá trình khoáng hóa tại các đĩa sụn tăng trưởng và chất nền xương mới hình thành [3]. Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng này bắt nguồn từ sự thiếu hụt vitamin D, canxi hoặc phối hợp cả hai yếu tố [3]. Vitamin D đóng vai trò như chiếc chìa khóa giúp ruột hấp thu canxi và photpho vào máu; khi thiếu hụt hai dưỡng chất nền tảng này, xương không thể khoáng hóa bình thường [3].
Chế độ ăn thực dưỡng điển hình gồm ngũ cốc nguyên hạt, đậu đỗ và rau củ, kiêng hoàn toàn các sản phẩm từ sữa [1], [2]. Sữa động vật, trứng và cá béo vốn là nguồn cung cấp vitamin D và canxi dồi dào nhất trong khẩu phần hàng ngày [4]. Khi cắt bỏ sữa, trẻ bị cắt đứt nguồn canxi khả dụng [2], [5]. Đáng lo ngại hơn, khẩu phần thực dưỡng chứa lượng chất xơ rất cao từ ngũ cốc thô [2]. Lượng chất xơ dư thừa này cản trở sự hấp thu canxi tại ruột già và ruột non, làm giảm độ khả dụng sinh học của lượng canxi ít ỏi vốn có [2], [5]. Thiếu canxi kết hợp với việc ít bổ sung vitamin D khiến nồng độ chất khoáng sụt giảm nghiêm trọng, buộc cơ thể phải huy động khoáng chất từ xương, dẫn đến còi xương và nhuyễn xương [3], [2].
Nghiên cứu Hà Lan: Tỷ lệ còi xương tăng vọt theo mùa ở trẻ ăn thực dưỡng
Để đánh giá tình trạng vitamin D và sự phát triển xương, một nghiên cứu đoàn hệ tại Hà Lan năm 1990 đã theo dõi 53 trẻ da trắng từ 10 đến 20 tháng tuổi ăn thực dưỡng và so sánh với nhóm đối chứng gồm 57 trẻ ăn đa dạng [2].
Kết quả vào cuối mùa hè (từ tháng 8 đến tháng 11) cho thấy có tới 28% trẻ trong nhóm thực dưỡng biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh còi xương [2]. Nhóm trẻ thực dưỡng có triệu chứng còi xương sở hữu nồng độ 25-hydroxyvitamin D trong huyết tương trung bình chỉ đạt 34,0 ± 15,3 nmol/L, thấp hơn đáng kể so với mức 49,7 ± 21,9 nmol/L ở nhóm trẻ thực dưỡng không có biểu hiện bệnh [2].
Nghiêm trọng hơn, khi nhóm nghiên cứu theo dõi tiếp một phân nhóm gồm 25 trẻ ăn thực dưỡng vào giai đoạn cuối đông đầu xuân (tháng 3 đến tháng 4), tỷ lệ trẻ có dấu hiệu còi xương lâm sàng đã tăng vọt lên 55% [2]. Mọi nồng độ chất trong máu của trẻ đều tụt thấp hơn hẳn so với mùa hè trước đó, với nồng độ 25-hydroxyvitamin D trung bình giảm sâu chỉ còn 12,3 ± 4,3 nmol/L [2]. Các phân tích khẳng định sự thiếu hụt canxi khả dụng trong bữa ăn thực dưỡng là một yếu tố độc lập thúc đẩy tỷ lệ còi xương tăng cao vào mùa hè [2], [5]. Việc kiêng sữa kết hợp với chế độ ăn quá nhiều chất xơ gây tổn thương rõ rệt đến quá trình phát triển xương ở trẻ nhỏ [2].
Trẻ thực dưỡng thiếu hụt đa vi chất và chậm phát triển chiều cao
Một nghiên cứu đoàn hệ dọc hỗn hợp quy mô dân số công bố năm 1994 tại Hà Lan tiếp tục theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ ăn thực dưỡng từ 0 đến 10 tuổi [1]. Nghiên cứu chỉ ra rằng tình trạng chậm tăng trưởng biểu hiện rõ rệt nhất trong giai đoạn từ 6 đến 18 tháng tuổi [1]. Khi so sánh các trẻ từ 4 đến 18 tháng tuổi ăn thực dưỡng với nhóm trẻ ăn thông thường cùng lứa tuổi thông qua khám nhi khoa, xét nghiệm máu và nhân trắc học, các nhà khoa học phát hiện tình trạng thiếu hụt đồng loạt năng lượng, chất đạm, vitamin B12, vitamin D, canxi và riboflavin ở nhóm trẻ thực dưỡng [1]. Hậu quả trực tiếp là trẻ bị chậm lớn, teo mỡ, teo cơ và chậm phát triển tâm thần vận động [1]. Đồng thời, sữa của các bà mẹ ăn thực dưỡng cũng chứa ít vitamin B12, canxi và magiê hơn hẳn bình thường [1].
Mối liên hệ giữa chế độ ăn thực dưỡng và quá trình tăng trưởng chiều cao tuyến tính được làm rõ trong công trình công bố năm 1994 trên tập hợp trẻ từ 0 đến 10 tuổi [6]. Khảo sát cắt ngang trên 243 trẻ từ 0 đến 8 tuổi cho thấy trẻ bắt đầu lệch khỏi đường cong tăng trưởng chuẩn ngay trong thời kỳ ăn dặm [6]. Từ 2 đến 4 tuổi, trẻ có sự bắt kịp một phần về cân nặng và vòng cánh tay nhưng chiều cao thì hoàn toàn không bắt kịp [6]. Nghiên cứu dọc trên 53 trẻ thực dưỡng (4-18 tháng tuổi) và 57 trẻ đối chứng khẳng định sự đình trệ tăng trưởng chiều cao liên quan mật thiết đến hàm lượng đạm trong khẩu phần ăn [6].
Sau khi các nhà nghiên cứu khuyến nghị gia đình điều chỉnh dinh dưỡng bằng cách bổ sung chất béo và cá béo, khảo sát theo dõi lặp lại sau 2 năm trên 194 trẻ cho thấy nhóm trẻ được gia đình tăng cường cá béo hoặc các sản phẩm từ sữa đã đạt mức tăng trưởng chiều cao nhanh hơn rõ rệt so với những trẻ còn lại (P < 0,05) [6]. Do không ghi nhận bất kỳ yếu tố nhiễu nào về điều kiện xã hội hay bệnh truyền nhiễm, nghiên cứu kết luận chính sự thiếu hụt dinh dưỡng đơn thuần từ khẩu phần thực dưỡng là nguyên nhân cốt lõi gây chậm phát triển chiều cao ở trẻ [6].
Bằng chứng từ các quan sát tại Mỹ và diễn biến tổn thương xương
Các dữ liệu ghi nhận sớm hơn tại Mỹ cũng chỉ ra hệ quả tương tự. Nghiên cứu năm 1979 khảo sát hồ sơ dinh dưỡng của 52 trẻ ăn chay tuổi mầm non (giai đoạn 1974 - 1976) nhận định chế độ ăn thực dưỡng cung cấp lượng vitamin D, canxi và photpho ở mức rất giới hạn, thấp hơn hẳn các chế độ ăn chay khác [7]. Các trẻ này hiếm khi được gia đình cho uống bổ sung vitamin D [7], [5]. Khi khám bệnh án cho 32 trẻ ăn thực dưỡng vào năm 1977, các bác sĩ phát hiện tiền sử của trẻ chứa nhiều dấu hiệu lâm sàng và bằng chứng X-quang điển hình của bệnh còi xương hơn hẳn nhóm 17 trẻ ăn chế độ ăn chay khác, đồng thời nồng độ phosphatase kiềm (alkaline phosphatase) trong huyết thanh cũng cao hơn [7].
Một nghiên cứu dịch tễ tại hạt Olmsted, bang Minnesota năm 2014 khảo sát các ca còi xương dinh dưỡng cũng ghi nhận toàn bộ bệnh nhi đều dưới 3 tuổi, trong đó 2/3 phát bệnh vào năm thứ hai đời người [8]. Đặc điểm lâm sàng phổ biến nhất là chậm lớn (71%), với chiều cao trung vị dưới bách phân vị thứ 3, đi kèm biến dạng chân, đau chân và chậm đạt các mốc vận động [8]. Trong số hồ sơ bệnh án tìm hiểu được các yếu tố nguy cơ, có tình trạng bú mẹ kéo dài nhưng không được bổ sung vitamin D, lượng sữa uống vào bị hạn chế và chế độ ăn thiên về ăn chay [8].
Còi xương dinh dưỡng không chỉ dừng lại ở vấn đề thấp còi mà gây nên những hậu quả nghiêm trọng trên khung xương. Trẻ có biểu hiện sưng khớp cổ tay và cổ chân, chuỗi hạt sườn (rachitic rosary), mềm xương sọ, chân vòng kiềng [3]. Chẩn đoán xác định trên hình ảnh X-quang cho thấy hiện tượng cuộn lõm (cupping) và xòe rộng (flaring) bất thường ở đầu các xương dài như xương đùi, xương chày, xương mác [3], [4]. Khi làm xét nghiệm máu, nồng độ men phosphatase kiềm và hormone cận giáp (PTH) tăng vọt, trong khi 25-hydroxyvitamin D và canxi huyết thanh giảm sâu [3], [4]. Tình trạng hạ canxi máu do còi xương kéo dài có thể đe dọa trực tiếp tính mạng đứa trẻ thông qua các cơn co giật và suy tim do bệnh cơ tim giãn ở lứa tuổi sơ sinh [3].
Những hiểu lầm thường gặp về việc cho trẻ ăn thực dưỡng
Nhiều người lầm tưởng rằng các loại ngũ cốc nguyên hạt, hạt mè, đậu nành và rau củ quả tự nhiên có thể cung ứng đầy đủ canxi và năng lượng cho cơ thể trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Thực tế, canxi trong thực vật có độ khả dụng sinh học thấp và dễ bị ức chế hấp thu bởi lượng chất xơ cao cùng các chất kháng dinh dưỡng có trong ngũ cốc toàn phần [2], [5].
Một hiểu lầm phổ biến khác là cho rằng trẻ chỉ cần tắm nắng là đủ vitamin D, không cần đến nguồn thực phẩm từ động vật. Mặc dù ánh nắng tổng hợp vitamin D qua da, nhưng thói quen tránh nắng hoặc sinh sống ở các khu vực thiếu ánh sáng mặt trời khiến nguy cơ thiếu hụt gia tăng mạnh mẽ, biến dinh dưỡng thành nguồn bổ sung sống còn [3]. Nhiều phụ huynh tin rằng cơ thể trẻ nhỏ có thể tự thích nghi hoàn hảo với chế độ ăn hoàn toàn từ thực vật; tuy nhiên các số liệu nhân trắc học khẳng định trẻ ăn thực dưỡng bị ngừng trệ chiều cao, và nếu không được bổ sung kịp thời các thực phẩm thiết yếu từ động vật, tình trạng thấp còi sẽ kéo dài và không thể bù đắp trọn vẹn [1], [6].
Đối tượng cần tuyệt đối thận trọng
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trong giai đoạn từ 6 đến 18 tháng tuổi là đối tượng nhạy cảm nhất trước các thiếu hụt vi chất dinh dưỡng [1]. Đây là thời kỳ cơ thể có tốc độ tăng trưởng chiều cao và khối lượng xương thần tốc, đòi hỏi mật độ năng lượng và dưỡng chất vô cùng đậm đặc. Việc áp đặt chế độ ăn thực dưỡng nghiêm ngặt trong giai đoạn ăn dặm này chắc chắn dẫn đến đứt gãy tăng trưởng chiều cao và tổn thương xương [1], [6].
Phụ nữ mang thai và cho con bú cũng là nhóm đối tượng không nên áp dụng chế độ thực dưỡng nghiêm ngặt [3]. Chế độ ăn thiếu chất của người mẹ trực tiếp khiến sữa mẹ nghèo nàn canxi, magiê và vitamin B12, từ đó đẩy đứa trẻ bú mẹ hoàn toàn vào tình trạng suy dinh dưỡng vi chất sớm và tăng nguy cơ co giật, suy tim [1], [3]. Trẻ em có cơ địa dị ứng nhiều loại thực phẩm phải kiêng sữa, cá, trứng cũng cần được giám sát chặt chẽ vì nguy cơ còi xương tương tự như nhóm ăn kiêng khắt khe [4].
Khuyến cáo áp dụng dinh dưỡng thực tế để phòng ngừa còi xương
Để phục hồi và hỗ trợ trẻ phát triển thể chất tối ưu, các nhà nghiên cứu khuyến cáo chế độ ăn hàng ngày của trẻ cần được bổ sung bắt buộc các nhóm thực phẩm quan trọng [1]. Khẩu phần của trẻ nhỏ cần có chất béo tối thiểu từ 20 đến 25 g/ngày [1]. Trẻ cần được ăn cá béo với lượng tối thiểu 100 đến 150 g/tuần và tiêu thụ sữa cùng các chế phẩm từ sữa động vật tối thiểu từ 150 đến 250 g/ngày [1]. Sự xuất hiện của cá béo và sữa cung cấp trực tiếp nguồn canxi dễ hấp thu, vitamin D và đạm chất lượng cao, giúp thúc đẩy trẻ tăng trưởng chiều cao nhanh chóng [1], [6].
Bên cạnh đó, việc bổ sung vitamin D dự phòng hoặc điều trị cần được thực hiện theo đúng hướng dẫn y khoa. Ở trẻ mắc còi xương, việc điều trị y tế đòi hỏi sử dụng cholecalciferol hoặc ergocalciferol liều cao liên tục tối thiểu trong 12 tuần, sau đó duy trì bổ sung liều bảo vệ suốt đời, song song với việc bảo đảm đủ lượng canxi qua ăn uống hoặc viên bổ sung [3], [4]. Các bậc phụ huynh tuyệt đối không tự ý áp đặt chế độ ăn kiêng hà khắc cho trẻ nhỏ. Khi nhận thấy trẻ có các dấu hiệu chậm tăng chiều cao, chân vòng kiềng, biến dạng cổ tay hoặc chậm lẫy, chậm đi, cần đưa trẻ đến khám chuyên khoa nhi hoặc dinh dưỡng để được can thiệp kịp thời [3], [8].
Tóm lại, các dữ liệu khoa học khẳng định chế độ thực dưỡng thuần túy không đáp ứng được nhu cầu phát triển của trẻ nhỏ và trực tiếp gây bệnh còi xương, suy giảm tầm vóc. Một chế độ ăn đa dạng cân đối, kết hợp đầy đủ sữa, đạm động vật và nguồn chất béo lành mạnh chính là chìa khóa duy nhất bảo vệ hệ xương và tương lai thể chất của trẻ.







