Nhiều người tìm đến chế độ ăn thực dưỡng với mong muốn thanh lọc cơ thể, phòng chống bệnh tật và cải thiện tuổi thọ. Lối ăn chủ yếu dựa vào ngũ cốc nguyên cám và rau củ này được lan truyền rộng rãi qua mạng xã hội như một giải pháp trị bách bệnh. Tuy nhiên, việc áp dụng chế độ thực dưỡng quá khắt khe có thể dẫn đến những hệ lụy sức khỏe khôn lường đối với nhiều đối tượng.

Thực tế, chế độ thực dưỡng nghiêm ngặt hoàn toàn không phù hợp cho người có nhu cầu dinh dưỡng cao hoặc cơ thể đang suy yếu. Các nhóm đối tượng như trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai và cho con bú, thanh thiếu niên, bệnh nhân ung thư hoặc người suy kiệt cần tuyệt đối tránh xa việc kiêng khem ngặt nghèo này.

Thực dưỡng nghiêm ngặt hoạt động như thế nào trong cơ thể?

Chế độ ăn thực dưỡng (macrobiotic diet) là mô hình ăn uống ít chất béo, giàu chất xơ, nhiều carbohydrate phức và chủ yếu là ăn chay [1]. Thực đơn tập trung chủ yếu vào các loại ngũ cốc nguyên cám, hạt đậu và rau củ, đồng thời hạn chế tối đa thực phẩm có nguồn gốc từ động vật [2]. Chế độ này thường gắn liền với lối sống và triết lý tinh thần nhất định [1].

Về mặt tích cực, chế độ ăn này giúp người thực hiện có nồng độ lipid huyết thanh và huyết áp thấp hơn mức trung bình của dân số chung, từ đó hỗ trợ phòng ngừa bệnh tim mạch [1]. Lượng chất xơ cao cùng nguồn phytoestrogen dồi dào trong khẩu phần giúp giảm nhẹ nồng độ estrogen lưu hành ở phụ nữ, góp phần giảm thiểu nguy cơ mắc ung thư vú [3]. Nhiều khuyến nghị dinh dưỡng hiện đại cũng khuyến khích ăn nông sản địa phương, theo mùa và tươi sạch – vốn là các giá trị kế thừa từ lối sống thực dưỡng [1].

Dẫu vậy, việc loại bỏ hoàn toàn các nhóm thực phẩm thiết yếu lại tạo ra điểm bất lợi lớn. Khẩu phần ăn thực dưỡng có mật độ năng lượng rất thấp, chỉ đạt khoảng 2,4 kJ/g so với mức 3,4 kJ/g ở chế độ ăn thông thường [4]. Do quá nhiều chất xơ thô và cồng kềnh, thức ăn thực dưỡng làm dạ dày nhanh no nhưng cơ thể lại không hấp thu đủ calo, protein và các vi chất quan trọng [4].

Bằng chứng khoa học về tác hại trên trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Nghiên cứu đoàn hệ theo dõi dọc tại Hà Lan công bố năm 1994 đã khảo sát tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 0 đến 10 tuổi ăn theo chế độ thực dưỡng [2]. Kết quả kiểm tra đối chiếu giữa nhóm trẻ 4–18 tháng tuổi ăn thực dưỡng và nhóm trẻ ăn đa dạng thực phẩm cho thấy tình trạng chậm phát triển thể chất diễn ra rõ rệt nhất trong giai đoạn từ 6 đến 18 tháng tuổi [2].

Các bác sĩ phát hiện tình trạng thiếu hụt toàn diện năng lượng, protein, vitamin B12, vitamin D, canxi và riboflavin (vitamin B2) ở những trẻ nhỏ này [2]. Sự thiếu hụt kéo dài trực tiếp dẫn đến teo cơ, tiêu hao mô mỡ, suy dinh dưỡng thể còi cọc và làm chậm phát triển tâm thần vận động của trẻ [2].

Một nghiên cứu theo dõi dọc khác vào năm 1989 tại Hà Lan trên đoàn hệ sinh năm 1985 ghi nhận 53 trẻ ăn thực dưỡng và 57 trẻ ăn thông thường [4]. Trẻ ăn thực dưỡng bắt đầu ăn dặm từ 4,8 tháng tuổi với cháo ngũ cốc nấu nước lã, sau đó thêm rau, mè và các loại đậu, trong khi trái cây hiếm khi được dùng và hoàn toàn tránh thực phẩm động vật [4]. Ở mốc 6–8 tháng tuổi, lượng protein trẻ nạp vào chỉ đạt 80% mức khuyến nghị hàng ngày, và đến 8 tháng tuổi thì 69% protein đến từ thực vật [4]. Lượng canxi nạp vào chỉ đạt 280 mg/ngày (hoặc 308 mg/ngày nếu tính thêm canxi từ nước máy sinh hoạt), thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu phát triển của xương [4].

Năm 1990, một thử nghiệm can thiệp dinh dưỡng được thực hiện trên 27 trẻ từ 1 đến 2 tuổi bị thiếu hụt dinh dưỡng rõ rệt trong nhóm 53 trẻ ăn thực dưỡng nói trên [5]. Chương trình cung cấp kiến thức thành phần dinh dưỡng, gửi bản tin định kỳ, tư vấn cá nhân và giới thiệu đến các chuyên gia thực dưỡng để xin lời khuyên [5]. Đáng chú ý, việc điều chỉnh chế độ ăn trong khuôn khổ các hướng dẫn thực dưỡng thông thường hoàn toàn không cải thiện được lượng dinh dưỡng nạp vào, tốc độ tăng trưởng hay các chỉ số máu của trẻ [5].

Hệ lụy lâu dài đối với mật độ xương ở thanh thiếu niên

Tác động tiêu cực của chế độ ăn thiếu dưỡng chất thời thơ ấu không dừng lại khi trẻ lớn lên. Một nghiên cứu cắt ngang năm 2005 đã đo mật độ khoáng xương (BMD) và hàm lượng khoáng xương (BMC) bằng phương pháp DEXA ở 73 thanh thiếu niên (9–15 tuổi) từng ăn thực dưỡng nghiêm ngặt đến năm 6 tuổi, sau đó chuyển sang ăn chay có sữa trứng hoặc ăn đa dạng [6]. Nhóm này được so sánh với 94 thanh thiếu niên ăn uống đầy đủ từ nhỏ [6].

Kết quả cho thấy nồng độ vitamin B12 trong huyết thanh của nhóm từng ăn thực dưỡng thấp hơn đáng kể (trung bình nhân 246 pmol/L so với 469 pmol/L ở nhóm chứng) [6]. Ngược lại, nồng độ axit methylmalonic (MMA) – dấu chỉ điểm sinh hóa của tình trạng thiếu vitamin B12 – ở nhóm từng ăn thực dưỡng lại cao vượt trội (0,27 micromol/L so với 0,16 micromol/L) [6].

Sau khi hiệu chỉnh theo chiều cao, cân nặng, diện tích xương, tỷ lệ khối cơ nạc, độ tuổi, giai đoạn dậy thì và lượng canxi nạp vào, nồng độ MMA huyết thanh vẫn cao hơn rõ rệt ở những đối tượng có mật độ xương thấp (p = 0,0003) [6]. Lượng vitamin B12 cũng thấp hơn đáng kể ở nhóm có BMD thấp (p = 0,0035) hoặc BMC thấp (p = 0,0038) [6]. Dấu hiệu suy giảm tình trạng vitamin B12 trong những năm đầu đời để lại hệ quả giảm mật độ khoáng xương khi bước vào tuổi dậy thì, làm tăng nguy cơ loãng xương sau này [6].

Nguy cơ tiềm ẩn cho bệnh nhân ung thư và người suy kiệt

Có tới 48% bệnh nhân ung thư tìm kiếm các chế độ ăn kiêng phổ biến như kiêng kiềm, Paleo, Keto, thuần chay hoặc thực dưỡng với hy vọng kéo dài sự sống và ngăn tái phát [7]. Cả chế độ ăn thực dưỡng và ăn kiềm đều đáp ứng phần lớn khuyến nghị của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS) và Viện Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ (AICR) về việc tăng cường rau củ, hạn chế ngũ cốc tinh chế và rượu bia [7].

Tuy nhiên, các luận điểm chống ung thư của chế độ ăn này thường mang tính chất phản khoa học [7]. Các bằng chứng khoa học hiện nay chưa đủ để chứng minh chế độ ăn thực dưỡng giúp cải thiện kết quả điều trị hoặc kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân ung thư [1, 5]. Đa số các báo cáo ca bệnh ghi nhận hồi phục ngoạn mục chỉ là những trường hợp cá biệt, thiếu nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đối chứng chặt chẽ [1, 2].

Nguy hiểm hơn, việc theo đuổi thực dưỡng khắt khe có thể khiến bệnh nhân trì hoãn các phác đồ điều trị y khoa tiêu chuẩn [1]. Người bệnh ung thư vốn đối mặt với tình trạng suy mòn, sụt cân và thiếu hụt dinh dưỡng; nếu loại bỏ các nhóm thực phẩm giàu đạm động vật, nguy cơ thiếu chất càng trở nên trầm trọng [1, 5]. Các tác dụng phụ do hóa trị gây ra như viêm niêm mạc miệng, buồn nôn, chán ăn và rối loạn vị giác khiến việc dung nạp các món ngũ cốc khô cứng của thực dưỡng trở nên bất khả thi [8]. Hiện tại, các hướng dẫn lâm sàng quốc tế (như MASCC/ISOO) khẳng định bằng chứng can thiệp dinh dưỡng đặc thù cho biến chứng niêm mạc vẫn chưa đầy đủ, người bệnh không nên tự ý áp dụng [8].

5 nhóm người tuyệt đối không nên ăn thực dưỡng nghiêm ngặt

Dựa trên các nghiên cứu lâm sàng, có 5 nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất không nên theo đuổi chế độ ăn này:

  • Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 6 tuổi: Hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện không thể xử lý khối lượng lớn chất xơ cồng kềnh với mật độ năng lượng quá thấp [4]. Trẻ sẽ bị thiếu hụt calo, protein, vitamin B12, canxi, dẫn đến chậm lớn, teo cơ và chậm phát triển vận động [2].
  • Phụ nữ mang thai và bà mẹ đang cho con bú: Nhu cầu khoáng chất và vitamin của thai nhi rất lớn. Sữa mẹ của những người ăn thực dưỡng bị suy giảm nồng độ vitamin B12, canxi và magie [2]. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa nuôi con và sự phát triển trí não của bé.
  • Thanh thiếu niên trong giai đoạn dậy thì: Cơ thể cần lượng canxi và vitamin B12 dồi dào để xây dựng khối lượng xương đỉnh. Việc thiếu hụt vitamin B12 từ thực đơn thực dưỡng làm tăng nồng độ axit methylmalonic, kéo theo suy giảm mật độ khoáng xương và tăng nguy cơ loãng xương [6].
  • Bệnh nhân ung thư đang tiếp nhận điều trị: Bệnh nhân đối diện nguy cơ suy kiệt, viêm niêm mạc tiêu hóa và sụt giảm miễn dịch [8]. Việc ăn thực dưỡng nghiêm ngặt gây suy dinh dưỡng nặng, loại bỏ các dưỡng chất cần thiết và làm mất cơ hội điều trị y khoa chính thống [1, 5].
  • Người cao tuổi, người mới ốm dậy hoặc suy dinh dưỡng: Khả năng hấp thu kém kết hợp với chế độ ăn nghèo đạm, ít chất béo sẽ đẩy nhanh tốc độ teo cơ, khiến cơ thể suy kiệt và suy giảm sức đề kháng [1, 3].

Hiểu lầm thường gặp về chế độ ăn thực dưỡng

Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "ăn thực dưỡng số 7 (chỉ ăn gạo lứt muối mè) có thể chữa khỏi bệnh ung thư". Khoa học xác định cơ sở thực nghiệm để khuyến nghị dùng thực dưỡng điều trị ung thư hiện vẫn còn rất hạn chế [3]. Mọi lời khuyên áp dụng thực dưỡng để trị bệnh ung thư thường phản ánh định kiến cá nhân của người hướng dẫn hơn là dựa trên bằng chứng khoa học [3].

Một hiểu lầm khác là cho rằng thực phẩm thực vật có thể cung cấp đầy đủ mọi vitamin. Thực tế, vitamin B12 hầu như chỉ có trong nguồn gốc động vật. Trẻ nhỏ và người ăn chay thuần thực dưỡng đều ghi nhận tình trạng thiếu hụt vitamin B12 và canxi nghiêm trọng trong các xét nghiệm máu [3, 8].

Gợi ý điều chỉnh dinh dưỡng an toàn cho cộng đồng

Sau các nghiên cứu về tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, chính cộng đồng thực dưỡng tại Hà Lan và quốc tế đã phải thừa nhận sự cần thiết của việc điều chỉnh chế độ ăn [5].

Để đảm bảo an toàn, chế độ ăn dựa trên thực vật cần được bổ sung linh hoạt các nhóm thực phẩm giàu dinh dưỡng theo khuyến cáo từ các nhà nghiên cứu:

  • Bổ sung tối thiểu 20–25 g chất béo mỗi ngày [3, 4].
  • Bổ sung tối thiểu 100–150 g cá béo mỗi tuần nhằm cung cấp axit béo thiết yếu và vitamin D [3, 4].
  • Bổ sung tối thiểu 150–250 g sữa hoặc các chế phẩm từ sữa mỗi ngày để đảm bảo nhu cầu canxi và protein [3, 4].

Chế độ ăn nhiều rau xanh và ngũ cốc nguyên hạt mang lại nhiều giá trị phòng ngừa bệnh tim mạch và giảm nguy cơ ung thư [1, 2]. Tuy nhiên, việc áp dụng cần có sự cân bằng, linh hoạt và không được loại bỏ cực đoan các dưỡng chất thiết yếu của cơ thể. Đối với người có bệnh lý nền, trẻ nhỏ hoặc phụ nữ mang thai, mọi can thiệp thay đổi chế độ ăn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng để tránh gây hại đến tính mạng.