Thạch tùng từ lâu đã là vị thảo dược quen thuộc trong y học cổ truyền, thường được người dân tìm kiếm với mục đích cải thiện trí nhớ, chống viêm hoặc giải độc gan. Tuy nhiên, việc tự ý sắc nước uống kéo dài hàng tháng trời đang làm dấy lên mối lo ngại: Liệu các hợp chất trong cây có gây tích tụ độc tính cho gan hay không?

Các nghiên cứu thực nghiệm hiện nay chưa ghi nhận bằng chứng cho thấy thạch tùng gây hủy hoại tế bào gan nếu dùng đúng cách, thậm chí một số chế phẩm còn cho thấy khả năng hỗ trợ bảo vệ mô gan trước tác nhân gây hại [1]. Tuy nhiên, thành phần hóa học của cây chứa lượng alkaloid rất phức tạp, đòi hỏi quá trình chuyển hóa tại gan nên việc tự ý lạm dụng dài ngày luôn tiềm ẩn rủi ro [4, 7].

Thành phần alkaloid phức tạp trong cây thạch tùng

Cây thạch tùng (Lycopodium) chứa một kho tàng hoạt chất sinh học rất đa dạng nhưng cũng vô cùng đậm đặc. Theo các báo cáo khoa học, dịch chiết thô của loài thạch tùng Lycopodium clavatum là một hỗn hợp chứa khoảng 201 loại alkaloid khác nhau [2]. Tới năm 2004, tổng cộng đã có 201 loại alkaloid thạch tùng từ 54 loài thuộc chi này được ghi nhận trên toàn thế giới [3].

Các hợp chất alkaloid này được phân chia thành 4 nhóm chính gồm lycopodine, lycodine, fawcettimine và nhóm hỗn hợp khác [3]. Khi phân tích hàm lượng, lycopodine thường chiếm tỷ lệ áp đảo nhất trong các phân đoạn chiết xuất từ phần trên mặt đất của cây [1, 2].

Chính vì cấu trúc đa dạng và chứa nhiều nhóm hoạt chất có hoạt tính sinh học mạnh, mọi chất đưa vào cơ thể qua đường uống đều phải đi qua "nhà máy" gan để chuyển hóa [4]. Điều này giải thích tại sao giới khoa học đặc biệt chú ý đến phản ứng của tế bào gan trước các phân đoạn alkaloid này.

Cơ chế tác động và cách cơ thể xử lý alkaloid thạch tùng

Khi đi vào cơ thể, các hợp chất trong nước sắc thạch tùng sẽ trải qua các phản ứng chuyển hóa sinh học. Nghiên cứu thực nghiệm trên động vật năm 2019 đã phát hiện có 17 đỉnh hợp chất trong huyết tương chuột, bao gồm 12 hợp chất nguyên bản và 5 chất chuyển hóa sau khi uống dịch chiết thạch tùng [4]. Trong đó, methyl hóa và khử methyl (demethylation) là hai phản ứng chuyển đổi chính diễn ra trong huyết thanh [4].

Bên cạnh con đường chuyển hóa, nhóm alkaloid này còn tác động mạnh mẽ lên hệ thống thần kinh và các phản ứng oxy hóa. Nghiên cứu năm 2012 cho thấy dịch chiết giàu alkaloid có khả năng ức chế enzym acetylcholinesterase (AChE) phụ thuộc vào liều lượng và thời gian trên các vùng vỏ não, thể vân và hồi hải mã của chuột [5]. Đồng thời, chiết xuất thạch tùng còn làm giảm quá trình peroxy hóa lipid và làm tăng hoạt tính của enzym chống oxy hóa catalase (CAT) ở mô não chuột [5].

Ở mức độ tế bào, alkaloid chính lycopodine có thể kích hoạt các phản ứng tạo gốc oxy hóa (ROS), làm khử cực màng ty thể, giải phóng cytochrome c và hoạt hóa caspase-3 dẫn tới sự tự chết theo chu trình (apoptosis) của tế bào bệnh [2].

Nghiên cứu thực nghiệm về tác động trên gan: Độc hay bảo vệ?

Mối băn khoăn lớn nhất của người dùng là liệu dịch chiết thạch tùng có làm tăng men gan hay phá hủy tế bào gan hay không. Đến nay, các dữ liệu khoa học chưa cho thấy bằng chứng thạch tùng gây độc gan mạn tính, trái lại một số nghiên cứu còn ghi nhận tiềm năng bảo vệ cơ quan này trước tổn thương cấp [1].

Cụ thể, một nghiên cứu thực nghiệm công bố năm 2015 đã tiến hành đánh giá hiệu quả bảo vệ gan của chế phẩm Lycopodium clavatum 30CH trên mô hình chuột cống trắng Wistar bị tổn thương gan do ngộ độc paracetamol liều cao [1]. Tổng cộng 30 con chuột được chia thành 6 nhóm; các nhóm can thiệp được cho uống tiền xử lý chế phẩm Lycopodium clavatum 30CH với liều 0,25 ml/ngày liên tục trong 8 ngày, sau đó được gây độc bằng paracetamol liều 3 g/kg vào ngày thứ 8 [1]. Kết quả đo lường sau 24 giờ cho thấy, nồng độ men gan ALT ở nhóm được dùng thạch tùng giảm đáng kể xuống còn 901,04 ± 92,05 U/l so với mức 1866,28 ± 585,44 U/l ở nhóm đối chứng dùng cồn 30% [1].

Không chỉ làm hạ men gan, phân tích mô bệnh học còn ghi nhận sự thuyên giảm rõ rệt diện tích hoại tử và thâm nhiễm viêm ở vùng xoang gan 1 sau 72 giờ (15,46 ± 13,86 clr/cm² ở nhóm thạch tùng so với 73,75 ± 16,60 clr/cm² ở nhóm đối chứng) [1]. Sự cạn kiệt glycogen ở vùng xoang gan 3 cũng được ức chế hiệu quả [1]. Đặc biệt, nghiên cứu này không quan sát thấy sự phát triển của xơ hóa gan hay các rối loạn kéo dài về men gan transaminase sau 72 giờ [1].

Trước đó, dịch chiết thô ethanol của Lycopodium clavatum cũng từng được ghi nhận trong y học bổ sung để hỗ trợ các bệnh lý gan và cho thấy khả năng chống khối u trên chuột bị gây ung thư gan mạn tính bởi p-dimethylamino azobenzene và phenobarbital [2].

Khả năng chống viêm và chống oxy hóa từ các nghiên cứu khác

Bên cạnh các tác động tại gan, thạch tùng còn được chứng minh có hoạt tính kháng viêm và chống oxy hóa đáng chú ý nhờ thành phần alkaloid. Trong một thử nghiệm năm 2007 đánh giá tính thấm mao mạch do acid acetic gây ra trên chuột, phân đoạn alkaloid từ cây Lycopodium clavatum ở liều 500 mg/kg đã ức chế viêm tới 32,1% (so với thuốc indomethacin đối chứng đạt 44,6% ở liều 10 mg/kg) [6]. Phân tích quang phổ khẳng định lycopodine chiếm tới 84,5% trong phân đoạn hoạt tính này [6].

Các thử nghiệm ống nghiệm và mô hình động vật năm 2012 cũng ghi nhận dịch chiết thạch tùng có hoạt tính chống oxy hóa thông qua việc dọn dẹp gốc tự do DPPH, tương tác với nitric oxide (NO) và ngăn chặn thoái giáng 2-deoxyribose [5]. Chuột 12 tháng tuổi sau khi tiêm phúc mạc dịch chiết thạch tùng ở mức liều 10 và 25 mg/kg đã cải thiện đáng kể các chỉ số chống oxy hóa TBARS và gia tăng hoạt lực enzym superoxide dismutase (SOD) cùng catalase [5].

Các kỹ thuật chiết xuất hiện đại năm 2021 cũng tối ưu hóa việc thu hồi các alkaloid quý này, cho thấy tỷ lệ lycopodine thu được từ Lycopodium clavatum có thể đạt trên 40% đến hơn 45% [3, 5].

Giới hạn của bằng chứng khoa học hiện nay

Mặc dù các dữ liệu ban đầu cho thấy thạch tùng tương đối lành tính với mô gan ở các mô hình nghiên cứu, người tiêu dùng cần nhìn nhận thẳng thắn vào các giới hạn khoa học hiện tại. Thứ nhất, nghiên cứu bảo vệ gan nổi bật nhất lại được thực hiện trên chế phẩm vi lượng đồng căn pha loãng (30CH) và tiến hành trên chuột Wistar trong thời gian ngắn (8 ngày), chưa phản ánh chính xác tác động của nước sắc thô đậm đặc khi dùng liên tục nhiều tháng trên người [1].

Thứ hai, đa phần các dữ liệu về hoạt tính ức chế men AChE hay hoạt tính chống ung thư đều được thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro) hoặc tiêm phúc mạc (i.p.) trên chuột với liều lượng đơn lẻ như 1, 10 hoặc 25 mg/kg [5].

Thứ ba, quá trình chuyển hóa của hơn 200 loại alkaloid khác nhau trong cơ thể người khi dùng dài ngày vẫn chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng quy mô lớn [4, 8]. Việc thiếu vắng các thử nghiệm độc tính mạn tính trên người đồng nghĩa với việc không thể khẳng định uống nước sắc thạch tùng trường kỳ là an toàn tuyệt đối 100% cho gan và thận.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng thạch tùng trị bệnh

Rất nhiều người lầm tưởng rằng cây cỏ tự nhiên thì "vô thưởng vô phạt", uống càng nhiều, càng đặc và càng lâu thì càng bổ não, mát gan. Đây là quan niệm hết sức sai lầm vì các alkaloid trong thạch tùng là những chất có dược lực rất mạnh, tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương và quá trình chuyển hóa tế bào [1, 4].

Một hiểu lầm khác là tự ý thu hái thạch tùng mọc hoang dã về đun nước uống thay trà hàng ngày để phòng ngừa suy giảm trí nhớ. Nước sắc thủ công không thể kiểm soát được hàm lượng lycopodine hay các chất đồng phân khác, rất dễ dẫn tới tình trạng dung nạp quá mức hoặc nhiễm phải tạp chất từ môi trường [2, 3].

Ai nên thận trọng khi tiếp xúc với thạch tùng?

Do đặc tính dược lý tác động ức chế acetylcholinesterase và con đường chuyển hóa qua gan, một số nhóm đối tượng bắt buộc phải thận trọng:

  • Người có tiền sử suy giảm chức năng gan, viêm gan mạn tính hoặc xơ gan: Việc gan đang suy yếu mà phải xử lý cùng lúc hàng chục chất chuyển hóa từ alkaloid có thể tạo thêm gánh nặng cho các enzym tế bào [4].
  • Bệnh nhân suy thận: Khả năng bài tiết các chất chuyển hóa sau phản ứng khử methyl bị suy giảm dễ gây tích lũy chất trong máu [4].
  • Người đang sử dụng thuốc điều trị thần kinh hoặc thuốc kháng cholinergic: Do thạch tùng có hoạt tính ức chế AChE mạnh, việc phối hợp không có chỉ định có thể gây tương tác thuốc nguy hiểm [1, 8].
  • Phụ nữ có thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ: Tuyệt đối không tự ý sử dụng nước sắc thảo dược đậm đặc do chưa có dữ liệu an toàn hoàn chỉnh.

Lời khuyên áp dụng an toàn trong đời sống

Để tận dụng các giá trị của thảo dược mà không gây hại cho sức khỏe, người dùng cần tuân thủ các nguyên tắc thận trọng. Tuyệt đối không tự ý dùng nước sắc thạch tùng kéo dài liên tục từ tháng này qua tháng khác như một loại nước giải khát hàng ngày.

Nếu có nhu cầu sử dụng thạch tùng để hỗ trợ trí nhớ hay chống viêm, cần tham khảo ý kiến của bác sĩ y học cổ truyền để được kê đơn đúng liều lượng, đúng thời gian cho từng liệu trình cụ thể. Khi đun sắc, không nên sắc quá đặc và không tự ý kết hợp bừa bãi với các loại thuốc tây điều trị bệnh mạn tính. Trong quá trình dùng, nếu xuất hiện các dấu hiệu mệt mỏi bất thường, vàng da, nước tiểu sẫm màu hoặc rối loạn tiêu hóa, cần ngừng ngay và đi kiểm tra chức năng gan.

Tóm lại, các dữ liệu khoa học bước đầu không cho thấy thạch tùng gây độc hoại tử gan, thậm chí còn giúp giảm men gan trong tổn thương cấp tính trên động vật [1]. Tuy nhiên, do thành phần chứa lượng lớn alkaloid phức tạp, người dân không nên chủ quan tự ý uống kéo dài mà cần lắng nghe tư vấn chuyên môn để bảo vệ an toàn cho cơ thể.