Đau dạ dày, ợ chua hay viêm loét đường tiêu hóa là những phiền toái sức khỏe rất đỗi quen thuộc đối với cánh mày râu hiện nay. Khi gặp các triệu chứng cồn cào khó chịu, thói quen phổ biến của nhiều người là tự mua thuốc giảm tiết axit về uống liên tục trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Tuy nhiên, không ít nam giới bày tỏ lo ngại liệu việc lạm dụng hoặc dùng các loại thuốc dạ dày này kéo dài có làm suy giảm phong độ, xáo trộn nội tiết tố hay teo tuyến sinh dục hay không.
Thực tế y khoa cho thấy nỗi băn khoăn này hoàn toàn có cơ sở khoa học. Một số nhóm thuốc ức chế axit dạ dày, đặc biệt là cimetidine thuộc nhóm kháng thụ thể H2 thế hệ cũ và nhóm ức chế bơm proton (PPI), đã được ghi nhận có liên quan đến hiện tượng rối loạn nội tiết sinh học và làm tăng nguy cơ mắc chứng vú to ở nam giới khi sử dụng [1, 7]. Dù vậy, mức độ tác động và nguy cơ cụ thể sẽ phụ thuộc lớn vào từng hoạt chất, liều lượng cũng như khoảng thời gian điều trị.
Bản chất các nhóm thuốc dạ dày và mối liên hệ với hormone
Để làm dịu các cơn đau và chữa lành vết loét, y học hiện đại sử dụng hai nhóm thuốc ức chế axit phổ biến nhất gồm nhóm kháng thụ thể histamine H2 (như cimetidine, ranitidine, famotidine) và nhóm ức chế bơm proton PPI (như omeprazole, lansoprazole, pantoprazole). Các loại thuốc này có nhiệm vụ ngăn chặn tế bào thành dạ dày tiết axit dịch vị, từ đó tạo điều kiện cho niêm mạc phục hồi [3, 4].
Tuy nhiên, bên cạnh đích đến tại dạ dày, hoạt chất của thuốc sau khi hấp thu vào máu có thể tương tác với nhiều hệ cơ quan khác, bao gồm gan và các mô nhạy cảm với hormone [1, 2]. Đáng chú ý, một số thuốc có cấu trúc hóa học hoặc đặc tính sinh học vô tình gắn kết với các thụ thể của nội tiết tố nam (androgen) hoặc làm thay đổi quá trình chuyển hóa các chất trong cơ thể, dẫn đến những tác dụng không mong muốn trên hệ sinh dục của phái mạnh [1, 7].
Cơ chế khiến thuốc dạ dày gây ảnh hưởng sinh lý nam
Hiện tượng vú to ở nam giới (gynecomastia) và các biểu hiện nữ hóa thường xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa hormone sinh dục nam (androgen) và hormone sinh dục nữ (estrogen). Khi tác động của androgen bị ức chế hoặc nồng độ của nó suy giảm so với estrogen, các mô tuyến vú ở nam giới sẽ bị kích thích và phát triển bất thường [1, 7].
Nghiên cứu cơ bản trên động vật đã chỉ ra rằng thuốc cimetidine hoạt động như một chất kháng androgen không steroid (nonsteroidal-antiandrogen) [1]. Hoạt chất này cạnh tranh trực tiếp và ngăn cản dihydrotestosterone (DHT) – một dạng hoạt tính rất mạnh của testosterone – liên kết với thụ thể của nó trong tế bào chất [1]. Đồng thời, cimetidine còn làm giảm sự hấp thu đặc hiệu của dihydrotestosterone gắn phóng xạ vào nhân tế bào ở các mô đích của androgen [1]. Kết quả là dù lượng testosterone nội sinh vẫn được sản xuất bình thường, hormone này lại không thể phát huy tác dụng sinh học tối đa lên cơ thể nam giới [1].
Bằng chứng khoa học về tác động của cimetidine
Mối liên hệ giữa việc điều trị dạ dày và tác dụng phụ trên hệ sinh dục nam đã được các nhà khoa học chú ý và chứng minh từ nhiều thập kỷ trước qua các thí nghiệm chi tiết trên động vật [1].
Trong một nghiên cứu kinh điển công bố năm 1979 trên chuột cống đực trưởng thành đã bị thiến và được bù testosterone ngoại sinh bằng các viên nang silastic cấy dưới da, các nhà khoa học nhận thấy cimetidine đối kháng trực tiếp các tác động của testosterone lên các mô đích [1]. Cụ thể, trọng lượng của tuyến tiền liệt bụng và túi tinh ở nhóm chuột dùng cimetidine đều thấp hơn rõ rệt so với nhóm chứng [1].
Thí nghiệm cũng kiểm tra trên chuột đực chưa dậy thì được dùng cimetidine với liều 50 mg/kg/ngày trong vòng 1 tuần, kết quả cho thấy hoạt chất này không hề có hoạt tính sinh học giống androgen [1]. Đáng chú ý, cimetidine không làm thay đổi nồng độ gonadotropin hay nồng độ testosterone trong huyết tương của động vật [1]. Các nhà nghiên cứu kết luận tính chất kháng androgen nội tiết này chính là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy sự hình thành chứng vú to ở những người đàn ông điều trị bằng cimetidine [1].
Thuốc ức chế bơm proton (PPI) và nguy cơ vú to ở nam giới
Không chỉ riêng nhóm kháng H2 đời cũ như cimetidine, nhóm thuốc ức chế bơm proton (PPI) vốn đang được kê đơn vô cùng rộng rãi hiện nay cũng không hoàn toàn vô can đối với nội tiết tố phái mạnh. Nhiều báo cáo ca bệnh từng ghi nhận hiện tượng tuyến vú phát triển bất thường ở nam giới dùng PPI, nhưng phải đến năm 2019, một nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn mới định lượng cụ thể nguy cơ này [2].
Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được công bố năm 2019, sử dụng cơ sở dữ liệu bảo hiểm y tế PharMetrics Plus tại Hoa Kỳ từ năm 2006 đến 2016, đã theo dõi 220.791 nam giới mới dùng thuốc PPI và đối chứng với 837.740 người mới dùng kháng sinh amoxicillin [2]. Ca bệnh vú to ở nam giới được xác định nghiêm ngặt qua hai lần ghi mã chẩn đoán ICD-9 hoặc ICD-10 trong vòng 90 ngày [2]. Các nhà nghiên cứu cũng đã hiệu chỉnh cẩn thận các yếu tố gây nhiễu như xơ gan do rượu, cường giáp, ung thư tinh hoàn, hội chứng Klinefelter, béo phì cùng việc sử dụng các thuốc dễ gây vú to như ketoconazole, risperidone, spironolactone và liệu pháp triệt tiêu androgen [2].
Kết quả cho thấy có 389 trường hợp mắc chứng vú to ở nhóm dùng PPI so với 996 trường hợp ở nhóm dùng amoxicillin [2]. Tỷ số rủi ro thô (crude HR) ở người dùng PPI so với amoxicillin là 1,70 với khoảng tin cậy 95% từ 1,461 đến 1,976 [2]. Khi phân tích độ nhạy với điều kiện đối tượng phải có từ 2 lần kê đơn PPI trở lên, tỷ số rủi ro đã hiệu chỉnh vẫn ở mức 1,299 với khoảng tin cậy 95% từ 1,146 đến 1,473 [2]. Đáng lưu ý, nguy cơ này gia tăng ở cả hai nhóm tuổi: tỷ số rủi ro đã hiệu chỉnh là 1,4795 (khoảng tin cậy 95%: 1,2431 - 1,7609) ở người trên 50 tuổi và 1,324 (khoảng tin cậy 95%: 1,1133 - 1,5745) ở nam giới từ 50 tuổi trở xuống [2]. Các tác giả cảnh báo các bác sĩ lâm sàng cần truyền đạt thông tin về nguy cơ này cho bệnh nhân nam khi bắt buộc phải dùng PPI kéo dài [2].
Nhìn nhận đúng mực về các bằng chứng y khoa hiện có
Dù các số liệu thống kê cho thấy sự tồn tại của nguy cơ ảnh hưởng nội tiết, nam giới không nên quá hoang mang mà tự ý dừng thuốc khi đang có phác đồ điều trị các tổn thương tiêu hóa nghiêm trọng. Thuốc kháng H2 và đặc biệt là PPI vẫn là trụ cột không thể thay thế trong việc kiểm soát axit dạ dày, điều trị loét dạ dày tá tràng hay dự phòng xuất huyết tiêu hóa nặng do stress ở bệnh nhân hồi sức tích cực [3, 4].
Cần hiểu rằng nghiên cứu dịch tễ học trên nhóm PPI năm 2019 là nghiên cứu quan sát hồi cứu dựa trên hồ sơ dữ liệu bảo hiểm [2]. Tỷ số rủi ro 1,299 sau hiệu chỉnh phản ánh một mức tăng nguy cơ có ý nghĩa thống kê, nhưng tỷ lệ tuyệt đối mắc bệnh trên tổng số người dùng thuốc thực tế không quá cao (chỉ 389 ca trên hơn 220.000 người dùng PPI) [2]. Hơn nữa, đối với cimetidine, dữ liệu thực nghiệm chủ yếu thực hiện trên mô hình động vật với liều lượng chuẩn hóa [1]. Một số hoạt chất cùng nhóm kháng H2 khác hoặc các dạng PPI khác nhau có thể có những đặc tính chuyển hóa men gan và ảnh hưởng dược lý riêng biệt [2, 8].
Những hiểu lầm thường gặp của nam giới khi dùng thuốc
Nhiều nam giới lầm tưởng rằng hễ cứ uống thuốc dạ dày là sẽ bị "bất lực", yếu sinh lý hay suy giảm lượng testosterone trong máu ngay lập tức. Đây là một quan niệm sai lầm và thổi phồng quá mức. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh rằng thuốc như cimetidine gây ức chế mô đích thông qua việc chặn thụ thể của androgen chứ không làm sụt giảm nồng độ testosterone hay gonadotropin trong huyết tương [1].
Một hiểu lầm khác là cho rằng mọi loại thuốc chữa dạ dày đều có tác động tiêu cực như nhau lên hệ nội tiết. Trong thực tế, các thuốc ức chế axit khác nhau có cấu trúc phân tử và tác động dược lực học rất đa dạng [2, 8]. Ví dụ, trong khi cimetidine cho thấy đặc tính kháng androgen rõ nét thì các thế hệ thuốc kháng H2 sau này hoặc các thuốc PPI khác nhau lại có những tác động chuyển hóa qua enzym gan và đáp ứng nội tiết rất riêng biệt [1, 2, 8]. Tác dụng phụ trên tuyến vú chủ yếu xuất hiện khi dùng thuốc kéo dài hoặc dùng liều cao, không phải xuất hiện tức thì sau một vài liều uống thông thường [2].
Ai nên thận trọng khi điều trị dạ dày kéo dài?
Những nam giới cần sử dụng thuốc ức chế axit dạ dày liên tục nhiều tháng liền, đặc biệt là người trung niên và cao tuổi trên 50 tuổi, cần hết sức lưu ý vì đây là nhóm có tỷ số rủi ro phát triển chứng vú to cao hơn [2]. Ngoài ra, những người đang đồng thời mắc các bệnh lý nền hoặc sử dụng các thuốc có thể làm rối loạn chuyển hóa hormone như bệnh béo phì, xơ gan do rượu, hoặc đang điều trị bằng thuốc điều hòa nội tiết cần thông báo rõ với bác sĩ [2].
Nếu trong quá trình điều trị dạ dày, người bệnh nhận thấy ngực có dấu hiệu căng tức, to lên bất thường, sờ thấy cục cứng hoặc giảm ham muốn tình dục, cần đi khám chuyên khoa ngay. Tuyệt đối không tự ý ngưng thuốc đột ngột nếu chưa có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa, bởi việc dừng thuốc ức chế axit không đúng cách có thể khiến tình trạng viêm loét, trào ngược hoặc xuất huyết dạ dày bùng phát trở lại [3, 5].
Lời khuyên áp dụng thực tế an toàn cho phái mạnh
Để bảo vệ đồng thời cả dạ dày lẫn sức khỏe sinh lý, nam giới cần tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc chỉ dùng thuốc kháng axit theo đúng chỉ định, đúng liều lượng và trong thời gian ngắn nhất có thể được khuyến cáo bởi bác sĩ. Tuyệt đối không xem thuốc giảm tiết axit như kẹo ngậm để uống tùy tiện mỗi khi thấy cồn cào sau các bữa nhậu hay ăn đồ cay nóng.
Khi được kê đơn các loại thuốc nhóm PPI hoặc kháng H2, nam giới nên chủ động hỏi bác sĩ về thời gian điều trị dự kiến và các lựa chọn hoạt chất phù hợp. Bên cạnh việc dùng thuốc, việc chủ động thay đổi lối sống đóng vai trò then chốt: ăn uống đúng giờ, hạn chế rượu bia, giảm thức ăn chua cay dầu mỡ, tránh căng thẳng kéo dài và duy trì cân nặng hợp lý. Việc kết hợp điều chỉnh thói quen sinh hoạt sẽ giúp niêm mạc dạ dày mau lành, từ đó rút ngắn tối đa thời gian phải phụ thuộc vào dược phẩm.
Tóm lại, việc dùng thuốc giảm tiết axit dạ dày kéo dài, điển hình là cimetidine hay các thuốc PPI, có ghi nhận mối liên hệ với nguy cơ gây chứng vú to và ức chế tác động của androgen ở nam giới [1, 7]. Tuy nhiên, đây là nhóm thuốc quan trọng và hữu hiệu trong điều trị bệnh lý tiêu hóa khi được dùng đúng mục đích [3, 4]. Bệnh nhân không nên tự ý dùng thuốc bừa bãi hay tự ý bỏ dở phác đồ, mà hãy luôn trao đổi cởi mở với bác sĩ điều trị để đảm bảo an toàn toàn diện cho sức khỏe.




