Nhiều người bệnh huyết áp cao thường truyền tai nhau việc bổ sung vitamin D như biện pháp tự nhiên giúp hạ sốt dẻo các chỉ số tim mạch. Quan sát cho thấy người thiếu hụt vitamin D hay kèm theo huyết áp bất ổn [3, 5]. Tuy nhiên, việc uống hoạt chất này có thực sự tạo ra tác dụng điều trị hạ áp rõ rệt trên lâm sàng hay không lại là điều cần kiểm chứng khoa học cẩn trọng [1, 7].

Câu trả lời ngắn gọn từ các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng: Vitamin D không phải là thuốc hạ huyết áp và không thể dùng thay thế phác đồ điều trị tiêu chuẩn [1]. Dù một số nghiên cứu ghi nhận mức giảm nhẹ ở nhóm người thiếu hụt nặng hoặc có bệnh chuyển hóa, bằng chứng can thiệp quy mô lớn nhìn chung cho kết quả trung tính hoặc không có ý nghĩa thống kê bền vững [1, 2, 7].

Bối cảnh và giả thuyết tác động của vitamin D

Mối quan tâm bắt nguồn từ các thống kê dịch tễ học ghi nhận nồng độ 25(OH)D trong máu liên quan nghịch với nguy cơ huyết áp cao [2]. Một phân tích gộp năm 2022 trên 70 nghiên cứu dịch tễ cho thấy mức vitamin D cao giúp giảm 16% nguy cơ tăng huyết áp so với mức thấp (RR: 0,84; khoảng tin cậy 95%: 0,73-0,96) [2]. Cứ mỗi 25 nmol/L nồng độ vitamin D tăng thêm, nguy cơ tăng huyết áp trong các nghiên cứu tiến cứu giảm 5% [2].

Về mặt sinh học thực nghiệm, vitamin D tham gia điều hòa hệ thống tim mạch và kiểm soát điện giải như canxi, phospho [1, 7]. Khi cơ thể thiếu hụt, một số cơ chế chuyển hóa bị xáo trộn, dẫn tới giả thuyết bổ sung vi chất này sẽ giúp thành mạch thư giãn và hỗ trợ ổn định chỉ số áp lực máu [2, 7]. Mặc dù vậy, tác động sinh hóa trên lý thuyết không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả hạ áp tương đương trên lâm sàng thực tế [1, 7].

Các thử nghiệm ngẫu nhiên nói gì về huyết áp tâm thu và tâm trương?

Để xác định hiệu quả thực tế, các chuyên gia đã tổng hợp hàng loạt thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) thực hiện trên bệnh nhân [1, 3, 4]. Kết quả thu được giữa các nhóm can thiệp lại rất khác nhau, tạo nên bức tranh đa chiều [1, 7].

Năm 2009, một tổng quan hệ thống và phân tích gộp xem xét 11 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với chất lượng phương pháp khác nhau [3]. Trong đó, 8 nghiên cứu can thiệp trên đối tượng có huyết áp nền trung bình trên 140/90 mmHg cho thấy huyết áp tâm thu giảm trung bình 3,6 mmHg nhưng không đạt ý nghĩa thống kê (khoảng tin cậy 95%: -8,0 đến 0,7) [3]. Ngược lại, huyết áp tâm trương giảm nhẹ có ý nghĩa thống kê ở mức 3,1 mmHg (khoảng tin cậy 95%: -5,5 đến -0,6) [3].

Đến năm 2010, một phân tích gộp khác từ 4 thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi trên 429 người bình thường hoặc có huyết áp cao cho kết quả trái ngược [4]. Việc bổ sung vitamin D đường uống làm giảm huyết áp tâm thu 2,44 mmHg (khoảng tin cậy 95%: -4,86 đến -0,02), nhưng hoàn toàn không làm thay đổi huyết áp tâm trương (-0,02 mmHg; khoảng tin cậy 95%: -4,04 đến 4,01) so với giả dược hoặc canxi [4]. Phân tích nhóm nhỏ của dữ liệu này cũng chỉ ra mức giảm không phụ thuộc vào liều dùng hay thời gian theo dõi [1, 4].

Nhiều phân tích gộp mở rộng sau đó tiếp tục ghi nhận sự mờ nhạt [1]. Nghiên cứu của Beveridge cùng cộng sự tổng hợp 46 thử nghiệm ngẫu nhiên với 4.541 người tham gia (dùng vitamin D dạng hoạt tính, không hoạt tính hoặc chất tương tự trên 4 tuần) và phân tích dữ liệu cá nhân từ 27 thử nghiệm (3.092 người) đều không phát hiện tác động hạ áp rõ rệt [1]. Nghiên cứu của Qi cùng đồng nghiệp trên 917 người từ 8 thử nghiệm dùng vitamin D hoạt tính trên 3 tháng cũng chỉ thấy mức giảm huyết áp không đáng kể [1].

Dạng dùng và thời gian can thiệp có tạo khác biệt?

Sự khác nhau về dạng vitamin D can thiệp mang lại một số dao động số liệu [3, 7]. Phân tích năm 2009 cho thấy các dạng chưa hoạt hóa như ergocalciferol hay cholecalciferol (hoặc kết hợp chiếu UVB) giúp giảm tâm thu 6,2 mmHg (khoảng tin cậy 95%: -12,32 đến -0,04), vượt trội hơn dạng hoạt hóa calcitriol (tăng 0,7 mmHg; khoảng tin cậy 95%: -4,8 đến 6,2) [3, 7].

Tại Đan Mạch năm 2012, một can thiệp mù đôi kéo dài 20 tuần dùng 3.000 IU vitamin D mỗi ngày so với giả dược trên người tăng huyết áp ghi nhận nhóm uống vitamin D hạ áp tốt hơn nhóm giả dược [5]. Mức hạ áp diễn ra rõ nét nhất ở những bệnh nhân có nồng độ vitamin D huyết thanh thấp ngay từ đầu [5].

Tại Ý năm 2013, thử nghiệm của Carrara và cộng sự cho người bệnh huyết áp cao uống 25.000 IU vitamin D mỗi tuần trong 8 tuần [5]. Kết quả đo lường ghi nhận nồng độ vitamin D trong máu tăng lên và huyết áp giảm đi rõ rệt [5]. Ở nhóm người da màu có huyết áp bình thường tham gia thử nghiệm năm 2013, việc dùng liều 1.000 IU, 2.000 IU hoặc 4.000 IU mỗi ngày trong 3 tháng cũng làm giảm huyết áp tâm thu theo nồng độ hấp thu, dù huyết áp tâm trương giữ nguyên [5].

Giới hạn của bằng chứng và nguyên nhân kết quả trái ngược

Mặc dù có một số báo cáo đơn lẻ khả quan, tổng thể dữ liệu can thiệp hiện nay vẫn kết luận vitamin D không mang lại hiệu quả hạ áp nhất quán [1, 7]. Các chuyên gia chỉ ra nhiều hạn chế lớn trong thiết kế nghiên cứu khiến kết quả phân tán [1, 7].

Đầu tiên là tính không đồng nhất về đặc điểm nền của đối tượng tham gia: từ người trẻ khỏe mạnh, người già, cho đến bệnh nhân có bệnh tim mạch chuyển hóa đi kèm [1, 2, 7]. Khi phân tích nhóm nhỏ trên những người có bệnh tim mạch chuyển hóa, một số can thiệp mới ghi nhận mức giảm tâm trương có ý nghĩa [1, 2].

Thứ hai, nhiều nghiên cứu lâm sàng trước đây có cỡ mẫu nhỏ, thời gian can thiệp ngắn dưới 1 năm, và huyết áp thường không phải là tiêu chí đánh giá chính [6]. Tương tác giữa vitamin D và các loại thuốc hạ áp sẵn có của bệnh nhân cũng có thể làm lu mờ hoặc triệt tiêu hiệu ứng hạ áp nhẹ của vi chất [7].

Thứ ba, hiệu quả bảo vệ dường như chỉ xuất hiện rõ rệt ở người thiếu hụt trầm trọng [2, 6]. Mối liên hệ dạng chữ L giữa nồng độ 25(OH)D và nguy cơ tăng huyết áp cho thấy nguy cơ tăng vọt khi nồng độ dưới 75 nmol/L, nhưng hầu như bão hòa khi đã vượt ngưỡng này [7]. Do đó, người đã đủ nồng độ vitamin D trong cơ thể sẽ không nhận thêm bất kỳ lợi ích hạ áp nào từ việc uống bổ sung [2, 3].

Những hiểu lầm thường gặp về vitamin D và huyết áp

Hiểu lầm phổ biến nhất là xem vitamin D như thần dược tự nhiên thay thế thuốc tây y. Nhiều người tự ý bỏ đơn thuốc điều trị huyết áp để chuyển sang uống vitamin D liều cao [1]. Bằng chứng khẳng định vitamin D không thể hạ áp đủ mạnh hay ổn định để kiểm soát tăng huyết áp độc lập [1, 7].

Một quan niệm sai lầm khác là liều càng cao thì mạch máu càng thông thoáng. Thực tế nghiên cứu cho thấy việc tăng liều không tạo ra tương quan tỷ lệ thuận đồng đều trên huyết áp nếu cơ thể không bị thiếu hụt [1, 4]. Tác động hạ áp nếu có chỉ ghi nhận khi bệnh nhân thực sự bị cạn kiệt vitamin D hoặc có kèm theo rối loạn chuyển hóa điện giải, cường cận giáp, suy thận [2, 7].

Ai nên thận trọng khi dùng vitamin D?

Người bệnh cao huyết áp không nên tự ý mua vitamin D liều cao để tự điều trị. Những bệnh nhân có tiền sử sỏi thận, vôi hóa mạch máu, rối loạn canxi huyết hoặc suy giảm chức năng thận cần có sự đánh giá kỹ càng từ bác sĩ [6]. Việc lạm dụng bổ sung vượt ngưỡng cho phép có thể gây ngộ độc và xáo trộn cân bằng canxi máu [6].

Bệnh nhân đang dùng các nhóm thuốc tim mạch, thuốc lợi tiểu hay thuốc điều trị bệnh mạn tính khác cũng cần báo cho bác sĩ trước khi dùng thêm thực phẩm chức năng chứa vitamin D [7]. Tương tác ngoài ý muốn giữa hoạt chất này và các thuốc tim mạch có thể làm ảnh hưởng tiến trình điều trị chính [7].

Cách tiếp cận thực tế và an toàn cho người bệnh

Để ứng dụng đúng đắn, bước đầu tiên người bệnh huyết áp cao nên làm là xét nghiệm nồng độ 25(OH)D huyết thanh nếu nghi ngờ thiếu hụt [7]. Việc bổ sung chỉ nên đặt ra nhằm đưa nồng độ vi chất về mức sinh lý bình thường (đặc biệt khi nồng độ dưới 75 nmol/L), phục vụ sức khỏe xương khớp và chuyển hóa nói chung chứ không nhắm đến mục đích chính là hạ huyết áp [1, 2].

Người dân có thể tận dụng các nguồn cung cấp tự nhiên như phơi nắng hợp lý vào sáng sớm, tăng cường thực phẩm giàu vitamin D như cá béo, trứng, nấm. Nếu phải dùng viên uống, các nghiên cứu cho thấy dạng vitamin D chưa hoạt hóa (D3 cholecalciferol) thường an toàn và đem lại phản hồi sinh học tốt hơn dạng hoạt hóa calcitriol nếu không có chỉ định chuyên khoa sâu [3, 7].

Tóm lại, vitamin D đóng vai trò thiết yếu đối với sức khỏe chuyển hóa nhưng không phải là phương thuốc điều trị bệnh cao huyết áp [1]. Người bệnh cần duy trì lối sống lành mạnh, ăn giảm muối, vận động đều đặn và tuân thủ tuyệt đối đơn thuốc của bác sĩ tim mạch, tránh đặt kỳ vọng sai lệch vào việc bổ sung vi chất đơn thuần [1, 7].