Nhiều người bệnh thận mạn tính và thân nhân thường tìm kiếm các loại thực phẩm bổ sung với hy vọng phục hồi chức năng thận. Trong đó, vitamin E thường được nhắc tới như một chất chống oxy hóa mạnh, có thể hỗ trợ bảo vệ cơ thể khỏi các biến chứng nguy hiểm.
Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học cho thấy vitamin E qua đường uống hoặc qua màng lọc máu có thể giúp giảm thiểu tình trạng peroxy hóa lipid và giảm stress oxy hóa ở bệnh nhân suy thận, nhưng hoàn toàn không thể phục hồi mức lọc cầu thận đã mất [4, 7].
Gánh nặng stress oxy hóa ở bệnh nhân thận mạn
Bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn cuối phải đối mặt với nguy cơ tử vong cao do các biến chứng tim mạch nghiêm trọng [1]. Ở nhóm người bệnh này, cơ thể xuất hiện sự mất cân bằng rõ rệt giữa các yếu tố tiền oxy hóa và chống oxy hóa [2]. Tình trạng gia tăng stress oxy hóa kéo dài là nguyên nhân hàng đầu thúc đẩy các biến chứng nguy hiểm như xơ vữa động mạch, bệnh thoái hóa dạng bột lắng đọng Beta2-microglobulin và thiếu máu mạn tính [2].
Đối với những người suy thận mạn phải chạy thận nhân tạo định kỳ, quá trình điều trị bản thân nó cũng góp phần sinh thêm các gốc tự do [2, 4]. Sự tương tác giữa các thành phần của máu và màng lọc không tương thích sinh học kích hoạt các phản ứng oxy hóa mạnh mẽ [2, 4]. Thêm vào đó, người bệnh thận tiến triển rất dễ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng do mắc bệnh kéo dài, chán ăn và phải tuân thủ chế độ kiêng khem nghiêm ngặt, từ đó dẫn tới nguy cơ thiếu hụt các vitamin tan trong dầu, bao gồm cả vitamin E [3].
Cơ chế chống oxy hóa của vitamin E diễn ra thế nào?
Vitamin E, đặc biệt là dạng alpha-tocopherol, là chất chống oxy hóa tan trong dầu có khả năng can thiệp trực tiếp vào chuỗi phản ứng phá hủy màng tế bào [2]. Cơ chế bảo vệ chính của vitamin E là ức chế quá trình oxy hóa hạt mỡ xấu LDL bởi các tác nhân oxy hóa [2]. Đồng thời, nó còn giúp hạn chế tối đa các phản ứng bất lợi của tế bào trước sự hiện diện của những phân tử LDL đã bị biến tính này [2].
Trong môi trường lọc máu, việc tiếp xúc liên tục giữa các tế bào máu và bề mặt màng nhân tạo tạo ra lượng lớn gốc tự do [2]. Do đó, việc can thiệp bằng cách bắt giữ và vô hiệu hóa trực tiếp các gốc tự do ngay tại bề mặt màng lọc là một hướng đi mang tính cơ chế rõ rệt [2]. Khi quá trình peroxy hóa lipid bị chặn đứng, tính toàn vẹn của màng tế bào trong hệ tuần hoàn được bảo tồn tốt hơn [2].
Bằng chứng khoa học: Giảm dấu ấn oxy hóa và hỗ trợ màng lọc
Các nghiên cứu lâm sàng đã phân tích sâu về hiệu quả của vitamin E đối với bệnh nhân thận qua hai con đường chính: bổ sung qua đường uống và sử dụng màng lọc gắn vitamin E [2].
Từ đầu những năm 1990, màng lọc máu phủ vitamin E đã được đưa vào ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng nhằm mục đích giảm tải stress oxy hóa sinh ra ngay trong mỗi ca lọc [1]. Khi đánh giá tác động sinh học, phương pháp lọc máu bằng màng phủ vitamin E giúp cải thiện rõ rệt các chỉ số sinh học của quá trình peroxy hóa lipid lưu hành trong máu người bệnh [2].
Bên cạnh khả năng dọn dẹp gốc tự do, lớp phủ alpha-tocopherol còn làm tăng tính tương thích sinh học của quả lọc [2]. Màng cellulose vốn dễ gây phản ứng nay hoạt động tương đương các loại màng tổng hợp tiên tiến về mặt hạn chế kích hoạt cytokine viêm [2].
Trong các nghiên cứu quy mô nhỏ trên bệnh nhân chạy thận nhân tạo mạn tính, cả hai hình thức gồm bổ sung vitamin E qua đường ăn uống và sử dụng màng lọc gắn vitamin E đều mang lại nhiều chuyển biến tích cực cho hệ tạo máu [2]. Cụ thể, các can thiệp này giúp làm giảm độ giòn của hồng cầu, kéo dài tuổi thọ của hồng cầu trong tuần hoàn, đồng thời cải thiện chỉ số huyết sắc tố hemoglobin và giảm bớt nhu cầu sử dụng thuốc kích thích tạo máu tái tổ hợp rHuEpo [2].
Ngoài ra, một bài tổng quan công bố năm 2006 chỉ ra rằng liệu pháp vitamin E đường uống có tác dụng làm giảm rối loạn chức năng nội mô, hạ peroxy hóa lipid và giảm stress oxy hóa ở bệnh nhân suy thận mạn [4]. Ở nhóm bệnh nhi mắc bệnh thận IgA, xơ chai cầu thận khu trú từng phần và đái tháo đường týp 1, dùng vitamin E cho thấy tiềm năng trong việc làm chậm tiến triển của tổn thương [4]. Thêm vào đó, việc dùng quả lọc gắn vitamin E còn ghi nhận khả năng làm giảm biến đổi xơ vữa, giảm liều thuốc kích thích tạo hồng cầu và hạ tần suất chuột rút cơ bắp trong lúc chạy thận [4].
Vitamin E không đảo ngược tổn thương hay khôi phục chức năng thận
Mặc dù đem lại các cải thiện sinh học trên bề mặt màng tế bào và dấu ấn peroxy hóa lipid, vitamin E không phải là phương thuốc tái tạo chủ mô thận [4, 7].
Tổn thương trong bệnh thận mạn tính, đặc biệt khi đã bước vào giai đoạn cuối, là tổn thương xơ hóa cấu trúc không thể hồi phục. Bổ sung vitamin E không làm tăng mức lọc cầu thận đã mất cũng như không đưa người bệnh rời khỏi lịch trình lọc máu chu kỳ. Nhiều thử nghiệm lâm sàng có đối chứng đã thất bại trong việc chứng minh các lợi ích dài hạn của vitamin E trên các kết cục thận và biến cố tim mạch ở nhóm người bệnh này [4].
Tương tự, các đánh giá tổng quan vào năm 2023 cũng nhấn mạnh rằng lợi ích thực sự của màng lọc phủ vitamin E so với các màng tổng hợp tiêu chuẩn đối với những kết cục then chốt như tỷ lệ sống còn lâu dài, chất lượng cuộc sống hay tỷ lệ mắc bệnh tim mạch tích lũy vẫn còn nhiều tranh cãi [1]. Người bệnh tuyệt đối không nên xem các chất chống oxy hóa như giải pháp thay thế cho các chỉ định y khoa căn bản.
Nguy cơ tiềm ẩn: Ai cần thận trọng tuyệt đối?
Vitamin E là vitamin tan trong mỡ, tích lũy trong các mô và không được đào thải nhanh chóng qua nước tiểu như các chất tan trong nước. Bệnh nhân suy thận giai đoạn nặng bị xáo trộn toàn bộ chuyển hóa nội môi, do đó việc tự ý dùng thêm chất bổ sung liều cao có thể gây hại [3, 7].
Một báo cáo khoa học đã ghi nhận hiện tượng gia tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở những bệnh nhân người lớn sử dụng vitamin E liều cao, điều này làm dấy lên mối lo ngại và tranh luận sâu sắc trong giới y khoa [4]. Vì vậy, việc tùy tiện mua các chế phẩm vitamin E hàm lượng lớn để uống hàng ngày mà không có kiểm soát có thể đẩy người bệnh thận vào nguy cơ ngộ độc hoặc gặp phải tác dụng phụ nguy hiểm.
Những đối tượng cần đặc biệt thận trọng và phải có ý kiến chỉ định của bác sĩ chuyên khoa thận gồm:
- Người bệnh suy thận tiến triển hoặc đang chạy thận nhân tạo định kỳ [3].
- Bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch phức tạp hoặc đang dùng đồng thời nhiều loại thuốc chuyển hóa qua gan.
- Người bệnh đang gặp rối loạn đông máu hoặc dùng thuốc chống đông kèm theo.
Lời khuyên áp dụng an toàn cho người bệnh thận
Để phòng ngừa thiếu hụt chất dinh dưỡng mà không gặp tác dụng bất lợi, người bệnh thận cần tuân thủ chế độ dùng chất bổ sung một cách khoa học:
Về nguồn cung cấp, bệnh nhân nên ưu tiên hấp thu các chất chống oxy hóa thông qua chế độ ăn được thiết kế riêng bởi chuyên gia dinh dưỡng tiết chế, phù hợp với từng giai đoạn suy thận để tránh làm tăng kali hay phốt pho máu.
Về liều lượng và thời điểm, chỉ sử dụng vitamin E dạng viên uống khi có chẩn đoán xác định thiếu hụt hoặc có đơn thuốc chỉ định từ bác sĩ điều trị [3, 7]. Tuyệt đối không tự ý dùng các loại viên nang chứa hàm lượng alpha-tocopherol cao kéo dài [4].
Đối với bệnh nhân lọc máu chu kỳ, việc lựa chọn loại màng lọc có hoạt tính sinh học hay màng gắn vitamin E cần do bác sĩ tại đơn vị thận nhân tạo quyết định dựa trên tình trạng lâm sàng, mức độ dung nạp và điều kiện trang thiết bị của cơ sở y tế [2, 4].
Vitamin E mang lại những giá trị sinh học nhất định trong việc giảm stress oxy hóa và hạn chế peroxy hóa màng lipid ở người bệnh thận nhân tạo [2]. Dẫu vậy, đây chỉ là liệu pháp hỗ trợ chuyển hóa, không thể phục hồi mức lọc cầu thận hay thay thế phác đồ điều trị chính quy. Người bệnh cần thảo luận trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa để được hướng dẫn phương án can thiệp an toàn nhất.












