Nghể chàm (còn gọi là thanh đại - indigo naturalis) là vị thuốc cổ truyền màu xanh lam đậm, thường được biết đến với công dụng giảm viêm hoặc hỗ trợ bệnh tự miễn. Gần đây, nhiều người tìm mua loại bột thảo dược này qua mạng xã hội để tự uống trị bệnh tiêu hóa hay bệnh da mạn tính [1]. Tuy nhiên, việc tự ý dùng đường uống tiềm ẩn nhiều phản ứng bất lợi khó lường [1, 2].

Đối với thảo dược này, người có tiền sử bệnh gan, người mắc bệnh lý tim mạch - tuần hoàn phổi và phụ nữ mang thai là những nhóm cần đặc biệt lưu tâm. Dữ liệu y khoa cảnh báo nguy cơ nhiễm độc cơ quan nội tạng khi uống nghể chàm [1, 3], trong khi bằng chứng an toàn trên phụ nữ mang thai hoàn toàn chưa được thiết lập.

Nguy cơ tổn thương gan và cơ chế mạch máu

Nghể chàm chứa các hoạt chất chính như indigo, indirubin và tryptanthrin [2]. Dù có tính kháng viêm, thảo dược này thường xuyên ghi nhận phản ứng bất lợi gây rối loạn chức năng gan có thể phục hồi ở người dùng [1, 2, 6]. Bệnh nhân sử dụng chế phẩm chứa nghể chàm có thể gặp tình trạng men gan tăng hoặc rối loạn chức năng tế bào gan [1, 2, 3].

Bên cạnh gan, hệ thống mạch máu cũng chịu tác động phức tạp khi dung nạp nghể chàm qua đường uống. Các nhà nghiên cứu phát hiện cơ chế kích hoạt tăng áp động mạch phổi có thể liên quan đến việc ức chế men tổng hợp oxit nitric (nitric oxide synthase) và gây rối loạn chức năng nội mô mạch máu phổi [1]. Ngoài ra, indigo là phối tử thụ thể AhR, dùng kéo dài có thể làm gia tăng biểu hiện serotonin thông qua con đường chuyển hóa tryptophan [3]. Do serotonin tác động trực tiếp lên tế bào cơ trơn mạch máu, sự gia tăng này có thể dẫn đến co thắt và hình thành tăng áp lực động mạch phổi [3]. Nghể chàm cũng được ghi nhận tác động lên hệ thống tĩnh mạch, gây viêm tĩnh mạch và tổn thương thiếu máu cục bộ đường ruột [1].

Bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng

Các nghiên cứu lâm sàng đã ghi nhận hiệu quả giảm viêm đại tràng của nghể chàm nhưng đồng thời cảnh báo rủi ro an toàn nghiêm trọng.

Năm 2019, một tổng quan y khoa trích dẫn nghiên cứu của Sugimoto và cộng sự cho thấy liều 2,0 g nghể chàm mỗi ngày kéo dài trong 8 tuần giúp đạt tỷ lệ đáp ứng lâm sàng 65% ở người viêm loét đại tràng mức độ trung bình đến nặng [3]. Tiếp đó, nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược của Naganuma và cộng sự tiến hành thử nghiệm các liều 0,5 g, 1,0 g và 2,0 g mỗi ngày trong 8 tuần [3]. Kết quả cho thấy tỷ lệ đáp ứng lâm sàng là 13,6% ở nhóm giả dược, 69,6% ở nhóm 0,5 g, 75,0% ở nhóm 1,0 g và 81,0% ở nhóm 2,0 g (chỉ số p < 0,001 so với giả dược) [3]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Naganuma đã phải dừng khẩn cấp trước thời hạn vì lý do an toàn sau khi có báo cáo về việc nhiều bệnh nhân tự mua nghể chàm dùng ngoài thử nghiệm bị tăng áp động mạch phổi [3].

Một tổng quan hệ thống năm 2024 về bệnh vảy nến ghi nhận các bài thuốc thảo dược chứa nghể chàm cải thiện chỉ số PASI60 cao hơn nhóm chứng (độ lệch tỷ lệ RD = 0,22, p < 0,0001) [2]. Tuy vậy, tỷ lệ gặp biến cố bất lợi tiêu hóa ở nhóm dùng thảo dược cũng cao hơn đáng kể so với nhóm chứng (RD = 0,09, p < 0,0001) [2].

Các báo cáo ca bệnh về tác dụng phụ nguy hiểm

Tác hại của việc uống nghể chàm không chỉ dừng lại ở các phản ứng nhẹ như đau bụng, buồn nôn, đau đầu [1, 6]. Một báo cáo ca bệnh năm 2020 mô tả trường hợp viêm đại tràng thiếu máu cục bộ sau khi tự dùng nghể chàm mua trên mạng [1]. Nghiên cứu này cũng nhắc đến trường hợp của Nishio và cộng sự ghi nhận bệnh nhân viêm loét đại tràng bị tăng áp động mạch phổi sau uống nghể chàm, cùng các ca viêm đại tràng phù nề, dày thành ruột do Kondo và Matsuno ghi nhận [1].

Một nghiên cứu loạt ca bệnh công bố năm 2025 tại Bệnh viện số 2 thuộc Đại học Gia Hưng (Trung Quốc) theo dõi 15 bệnh nhân (tuổi trung bình 61,7 ± 15,1; gồm 5 nam) bị tổn thương thiếu máu cục bộ niêm mạc đại trực tràng do uống thuốc chứa nghể chàm, chiếm tỷ lệ 1,3% (15/1.157 bệnh nhân) [4]. Trong số 15 bệnh nhân này, 9 người mắc xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn và 6 người bị xơ gan do sán máng kèm cường lách [4]. Thời gian dùng thuốc liên tục từ 12 đến 330 ngày (trung bình 98,0 ± 52,3 ngày) [4]. Triệu chứng đau bụng, tiêu chảy, đại tiện ra máu xuất hiện sau 6 đến 90 ngày (trung bình 28,9 ± 22,2 ngày) [4]. Chụp cắt lớp và nội soi phát hiện tổn thương ở nửa đại tràng phải và toàn bộ khung đại tràng [4]. Các triệu chứng chỉ thoái lui sau khi ngừng thuốc từ 17,3 ± 12,4 ngày [4].

Bên cạnh đó, một báo cáo năm 2018 mô tả bệnh nhi mắc bệnh Crohn nặng bị viêm tụy cấp sau khi thử dùng nghể chàm liều khởi đầu 0,15 mg/ngày [5]. Sau 2 liều uống, trẻ xuất hiện đau thượng vị dữ dội, nôn mửa, men amylase tăng lên 144 U/L và lipase tăng vọt 345 U/L [5]. Khi ngừng thảo dược và cho nhịn ăn, triệu chứng thuyên giảm sau 3 ngày và men tụy trở về bình thường sau 10 ngày [5].

Lợi ích có hạn và giới hạn bằng chứng

Nghể chàm được ghi nhận có hoạt tính chống tăng sinh, chống viêm và ức chế hình thành mạch máu qua việc điều hòa các con đường truyền tín hiệu tế bào như TAK1, JAK3/STAT3, Wnt/beta-catenin, Akt/PKB [2]. Trong phòng thí nghiệm, chiết xuất nghể chàm ở nồng độ 10 mcg/ml giúp giảm các gốc oxy hóa tự do (ROS) nội bào và ức chế quá trình biến đổi protein trên tế bào sừng người được nuôi cấy [6].

Dù có tiềm năng, bằng chứng hiện hành cho thấy thảo dược này thiếu các dữ liệu liều lượng - đáp ứng chính xác và chưa có cơ sở dữ liệu lớn trực tiếp để bảo đảm an toàn khi ứng dụng trên người [7]. Thêm vào đó, điều tra về nguồn dược liệu cho thấy một số mẫu nghể chàm trên thị trường còn tồn dư nhiều vôi do quá trình tinh chế chưa đạt, dẫn đến độ kiềm rất mạnh gây nguy cơ cho sức khỏe đường tiêu hóa [8].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược tự nhiên

Sai lầm phổ biến nhất là quan niệm "thảo dược thiên nhiên luôn lành tính, không có tác dụng phụ". Nghể chàm có thể gây phản ứng phụ nhẹ và phổ biến gồm rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau bụng), đau đầu, ngứa da [1, 2, 3].

Nghiêm trọng hơn, việc tự ý uống thảo dược kéo dài có thể gây các biến chứng nặng đe dọa tính mạng như viêm tụy cấp, viêm tắc tĩnh mạch ruột dẫn đến hoại tử thiếu máu cục bộ đại tràng, hoặc bệnh lý tăng áp động mạch phổi mạn tính [1, 3, 6, 7]. Bệnh nhân mắc bệnh mạn tính không nên đánh đồng thảo dược truyền thống với sự an toàn tuyệt đối.

Ba nhóm người cần tránh dùng đường uống

Dựa trên dữ liệu an toàn ghi nhận, 3 nhóm đối tượng sau không nên tự ý uống nghể chàm:

Nhóm 1: Người có bệnh lý về gan hoặc men gan cao. Dữ liệu y khoa khẳng định nghể chàm thường xuyên gây tác dụng phụ làm rối loạn chức năng gan [1, 2, 6]. Bệnh nhân có nền gan suy yếu có thể đối mặt với nguy cơ tổn thương gan nặng hơn [4].

Nhóm 2: Người có bệnh lý tim mạch, mạch máu hoặc tuần hoàn phổi. Nghể chàm có nguy cơ kích hoạt tăng áp lực động mạch phổi (PAH) và ảnh hưởng xấu đến thành mạch thông qua cơ chế co thắt cơ trơn mạch máu do serotonin và rối loạn chức năng nội mô [1, 3]. Đây là biến chứng tim mạch nghiêm trọng từng khiến các thử nghiệm lâm sàng phải dừng lại [3].

Nhóm 3: Phụ nữ mang thai và cho con bú. Cần nói rõ rằng hiện chưa có bất kỳ nghiên cứu hay thử nghiệm an toàn nào về nghể chàm đường uống trên nhóm phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú; các dữ liệu hiện có chỉ thực hiện trên bệnh nhân vảy nến, viêm đại tràng, bệnh bạch cầu hoặc tế bào thực nghiệm [2, 4, 8]. Do thảo dược này có độc tính lên gan, mạch máu và nguy cơ tạp chất vôi kiềm mạnh [1, 5], phụ nữ mang thai tuyệt đối không được tự ý sử dụng.

Ngoài 3 nhóm trên, trẻ em hoặc người có bệnh lý đường tiêu hóa phức tạp cũng cần hết sức cẩn trọng vì nguy cơ viêm tụy và thiếu máu cục bộ đại tràng [6, 7].

Áp dụng thực tế an toàn

Người bệnh không nên tự ý đặt mua các loại bột hoặc viên hoàn nghể chàm không rõ nguồn gốc qua mạng internet [1]. Trong điều trị y khoa, nghể chàm đôi khi được dùng dạng thụt ngoài cho viêm trực tràng (như viên thụt Xilei-san) hoặc thuốc bôi ngoài da để hạn chế hấp thu toàn thân [4, 7].

Nếu đang mắc các bệnh lý mạn tính như viêm loét đại tràng hay vảy nến, người bệnh cần tuân thủ phác đồ điều trị chính thống từ bác sĩ chuyên khoa [1, 4]. Bất kỳ ý định sử dụng thảo dược bổ trợ nào cũng phải thông báo đầy đủ với bác sĩ điều trị để được đánh giá nguy cơ tương tác và kiểm tra chức năng gan định kỳ [1]. Khi phát hiện các dấu hiệu đau bụng dữ dội, tiêu chảy ra máu, khó thở hoặc vàng da khi dùng thảo dược, cần dừng ngay lập tức và đến bệnh viện cấp cứu [1, 6].