Nhiều người Việt vẫn giữ thói quen sử dụng mật gấu tươi hoặc rượu ngâm mật gấu với niềm tin đây là phương thuốc quý giúp giải độc gan, làm tan sỏi mật và chữa bách bệnh. Trên thực tế, thành phần có giá trị điều trị nổi bật nhất trong mật gấu là axit ursodeoxycholic (thường được viết tắt là UDCA). Ngày nay, hoạt chất này đã được y học hiện đại tổng hợp thành dược phẩm chuẩn hóa với liều lượng chính xác nhằm điều trị một số bệnh lý gan mật nhất định.

Tuy nhiên, UDCA không phải là thần dược có thể dùng tùy tiện cho mọi trường hợp mắc bệnh lý đường mật. Hoạt chất này có những chống chỉ định tuyệt đối vô cùng nghiêm ngặt, bao gồm: tình trạng tắc nghẽn đường mật hoàn toàn, viêm túi mật cấp tính và sỏi mật đã bị canxi hóa. Việc tự ý sử dụng mật gấu chứa UDCA khi đường dẫn mật bị bít tắc hoàn toàn hoặc đang viêm cấp có thể làm tăng áp lực đường mật, dẫn tới nguy cơ thủng vỡ đường mật và đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh.

Cơ chế tác động của hoạt chất UDCA đối với đường mật và tế bào gan

Axit ursodeoxycholic là một loại axit mật tự nhiên dạng ưa nước, có đặc tính hóa lý khác biệt rõ rệt so với các axit mật kỵ nước nội sinh độc hại trong cơ thể người như axit chenodeoxycholic [1]. Do có nồng độ tạo micelle tới hạn cao hơn và hoạt tính bề mặt thấp hơn, UDCA hòa tan phospholipid và cholesterol ở mức độ thấp hơn, từ đó giảm thiểu tác động bào mòn màng tế bào [1].

Khi đi vào hệ tiêu hóa, UDCA cạnh tranh hấp thu tại hồi tràng và làm giảm sự tái hấp thu các muối mật kỵ nước gây độc cho gan [2]. Hoạt chất này kích thích sự bài tiết mật, làm loãng dòng dịch mật và bảo vệ màng tế bào gan khỏi hiện tượng ly giải tế bào do các muối mật nội sinh ứ đọng gây ra [1]. Cơ chế bài tiết mật này rất có lợi trong việc bảo vệ tính toàn vẹn của mô gan đối với các bệnh lý ứ mật mạn tính có đường thoát lưu thông suốt [3].

Mặc dù có tác dụng bảo vệ nhu mô gan và thúc đẩy lưu thông dịch mật, chính tác động tăng tiết dòng mật (choleretic effect) lại trở thành con dao hai lưỡi trong những trường hợp dòng chảy dịch mật bị cản trở hoàn toàn [3]. Khi lối thoát của dịch mật bị bít kín, việc kích thích sản xuất thêm dịch mật sẽ làm tăng áp lực dữ dội trong lòng ống mật và túi mật, dẫn đến các biến chứng thủng đường mật vô cùng nguy hiểm [3].

Những trường hợp chống chỉ định tuyệt đối: Ai không được phép dùng UDCA?

Chống chỉ định tuyệt đối đầu tiên của hoạt chất UDCA là tình trạng tắc nghẽn đường mật hoàn toàn [3]. Khi ống dẫn mật chính bị bít tắc cơ học hoàn toàn do sỏi lớn kẹt chặt, khối u chèn ép hoặc chít hẹp xơ hóa nghiêm trọng, dịch mật không thể thoát xuống tá tràng [3]. Trong tình huống này, việc dùng hoạt chất kích thích tiết mật như UDCA thường bị chống chỉ định vì nguy cơ làm rách vỡ hoặc tổn thương tính toàn vẹn của hệ thống đường mật [3].

Trường hợp chống chỉ định nghiêm ngặt thứ hai là viêm túi mật cấp tính hoặc viêm đường mật cấp. Khi túi mật đang trong tình trạng sưng phù, nhiễm trùng cấp tính hoặc hoại tử, áp lực buồng túi mật tăng cao đe dọa biến chứng thủng vỡ và viêm phúc mạc mật. Việc đưa thêm hoạt chất thúc đẩy bài tiết mật vào thời điểm này sẽ khiến phản ứng viêm thêm dữ dội, làm tăng nguy cơ biến chứng nhiễm trùng huyết nguy hiểm.

Nhóm chống chỉ định tuyệt đối thứ ba là bệnh nhân có sỏi túi mật đã bị canxi hóa hoặc cản quang trên phim chụp X-quang. Hoạt chất UDCA chỉ có khả năng hỗ trợ hòa tan các sỏi nhỏ bản chất thuần cholesterol không cản quang. Đối với sỏi đã canxi hóa cứng chắc, hoạt chất này hoàn toàn mất tác dụng hòa tan, việc cố tình uống kéo dài vừa không mang lại lợi ích vừa làm trì hoãn các can thiệp y khoa cần thiết khác.

Ngoài ra, những người bị suy giảm chức năng co bóp túi mật, viêm loét dạ dày - tá tràng tiến triển hoặc người có tiền sử dị ứng, quá mẫn với axit mật cũng không thuộc đối tượng được chỉ định dùng hoạt chất này.

Nghiên cứu khoa học nói gì về nguy cơ khi dùng UDCA trong tình trạng tắc mật?

Trong y văn lâm sàng, việc dùng UDCA cho các trường hợp ứ mật tắc nghẽn luôn được cảnh báo chặt chẽ vì nguy cơ phá vỡ tính toàn vẹn đường dẫn mật do tác dụng kích thích bài tiết mật [3]. Một nghiên cứu năm 2016 báo cáo về một bệnh nhân nam 83 tuổi bị tắc nghẽn đường mật ác tính không được nghi ngờ từ trước, đã sử dụng UDCA liều trung bình từ 8-12 mg/kg/ngày trong 5 tuần do chẩn đoán nhầm ban đầu là ứ mật do hóa trị [3]. Kết quả cho thấy UDCA giúp bảo vệ tế bào gan thể hiện qua việc giảm mạnh men gan trong huyết thanh, nhưng nồng độ bilirubin và axit mật toàn phần trong máu vẫn liên tục tăng cao do quá trình tắc nghẽn đường dẫn mật không được giải tỏa [3].

Ảnh hưởng của UDCA đối với các tổn thương chít hẹp đường mật cũng từng được ghi nhận trong nghiên cứu năm 1995 trên bệnh nhân nam 19 tuổi mắc viêm đường mật xơ hóa nguyên phát có hẹp nhánh chính ống gan chung kèm ứ mật nặng [4]. Khi được điều trị bằng UDCA với liều 900 mg/ngày, bệnh nhân ban đầu giảm nhanh triệu chứng vàng da và phục hồi bài tiết mật sau 12 tháng theo dõi qua xạ hình [4]. Tuy nhiên, hiệu quả này chỉ mang tính tạm thời và hoạt chất đã mất dần tác dụng theo thời gian, khiến bệnh nhân bị tái phát hội chứng vàng da tắc mật nặng nề và phải tiến hành ghép gan sau 2 năm [4].

Trên mô hình thực nghiệm, một nghiên cứu công bố năm 1992 trên chuột bị tắc ống mật chủ mạn tính kéo dài 3 tuần đã chỉ ra rằng việc bổ sung UDCA liều 100 mg/kg/ngày không mang lại bất kỳ cải thiện nào đối với chức năng microsome gan, áp lực tĩnh mạch cửa cũng như cấu trúc mô học gan [2]. Thử nghiệm này khẳng định rằng liệu pháp UDCA không có tác dụng đảo ngược đối với những tổn thương gan tiến triển sinh ra từ tình trạng tắc nghẽn đường mật cơ học [2].

Hơn nữa, một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng công bố năm 1994 trên 70 bệnh nhân bị tắc đoạn xa ống mật do khối u ác tính đã được đặt ống thông (stent) nhựa đường mật cũng cho thấy kết quả hạn chế [5]. Các bệnh nhân được chia ngẫu nhiên vào nhóm dùng kháng sinh theo chu kỳ kết hợp với UDCA hoặc nhóm không điều trị hỗ trợ sau can thiệp đặt stent [5]. Kết quả theo dõi cho thấy việc bổ sung kháng sinh và UDCA hoàn toàn không làm giảm tỷ lệ tái tắc nghẽn ống thông đường mật và cũng không cải thiện tỷ lệ sống sót chung của người bệnh [5].

Đánh giá hiệu quả của UDCA trên các bệnh lý gan mật mạn tính khác

Trái ngược với sự nguy hiểm và vô hiệu trong tình trạng tắc mật cơ học hoàn toàn, UDCA lại thể hiện nhiều tác dụng tích cực trên các bệnh lý gan mật ứ mật mạn tính có dòng chảy không bị bít nghẽn [1].

Đối với bệnh nhân mắc bệnh xơ nang, các nút nhầy đặc quánh làm tắc nghẽn các tiểu quản mật dẫn tới ứ đọng axit mật nội sinh và gây xơ gan mật [1]. Nghiên cứu theo dõi dài hạn trong suốt 10 năm được công bố vào năm 2001 trên 70 bệnh nhân xơ nang (độ tuổi từ 2 đến 29 tuổi) đã chứng minh hiệu quả bảo vệ gan rõ rệt của UDCA [6]. Những người có biểu hiện tổn thương gan khi được dùng UDCA liều 20 mg/kg thể trọng/ngày đã ngăn chặn được sự tiến triển từ xơ gan mật khu trú thành xơ gan nốt, bảo tồn tốt chức năng gan và không xảy ra biến chứng xuất huyết do giãn vỡ tĩnh mạch [6]. Các tổn thương gan khu trú trên hình ảnh siêu âm của bệnh nhân thậm chí đã hồi phục về mức bình thường [6].

Bên cạnh đó, trong bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát, một thử nghiệm lâm sàng thiết kế vắt chéo công bố năm 1997 trên 23 bệnh nhân đã so sánh hiệu quả giữa UDCA và axit tauro-ursodeoxycholic với liều 500 mg/ngày trong hai giai đoạn kéo dài 6 tháng [7]. Cả hai hoạt chất axit mật này đều làm giảm rõ rệt các chỉ số men gan phản ánh tình trạng ứ mật và hủy hoại tế bào gan so với thời điểm ban đầu [7]. Các bệnh nhân trong nghiên cứu đều dung nạp thuốc rất tốt và không ghi nhận tác dụng phụ bất lợi nào [7].

Ngoài ra, đối với những bệnh nhân đang được dẫn lưu đường mật giải áp do vàng da tắc mật, UDCA còn mang lại tác dụng hỗ trợ kháng khuẩn [8]. Nghiên cứu năm 1988 trên 5 bệnh nhân có chức năng gan ổn định được dẫn lưu mật qua da xuyên gan cho thấy việc dùng UDCA giúp tăng đáng kể nồng độ tối đa và tổng lượng đào thải vào dịch mật của hai loại kháng sinh cefotiam và sulbenicillin [8]. Tác dụng tăng bài tiết kháng sinh vào đường mật này có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ kiểm soát các đợt nhiễm trùng đường mật nghiêm trọng khi đường mật đã được đặt ống dẫn lưu dịch ra ngoài [8].

Những hiểu lầm nguy hại khi tự ý uống mật gấu hoặc UDCA

Sai lầm phổ biến nhất của người dân là xem mật gấu hay hoạt chất UDCA như một biện pháp giải độc rượu bia hoặc phòng ngừa bách bệnh cho gan. Mật gấu tự nhiên chứa hàm lượng axit mật không đồng nhất và có thể lẫn nhiều tạp chất sinh học, vi khuẩn hoặc độc chất gây hại cho thận và đường tiêu hóa. Việc tự ý pha mật gấu vào rượu để uống mỗi ngày không những không bảo vệ được tế bào gan mà còn làm tăng gánh nặng chuyển hóa, thúc đẩy xơ gan và suy tế bào gan nhanh chóng hơn.

Một hiểu lầm tai hại khác là cho rằng cứ phát hiện sỏi mật là có thể dùng UDCA để làm tan sỏi. Hoạt chất này hoàn toàn bất lực trước các loại sỏi sắc tố mật hoặc sỏi hỗn hợp đã ngấm vôi canxi. Nếu bệnh nhân bị sỏi kẹt ở cổ túi mật gây viêm cấp hoặc sỏi rơi xuống làm tắc nghẽn ống mật chủ mà vẫn cố chấp uống mật gấu hay UDCA, dòng dịch mật bị kích thích bài tiết ồ ạt sẽ biến đường mật thành một hệ thống chịu áp lực cực lớn, dễ dẫn tới vỡ túi mật, thấm mật phúc mạc và sốc nhiễm khuẩn đường mật.

Nhiều người cũng lầm tưởng rằng thuốc có nguồn gốc từ axit mật tự nhiên thì có thể sử dụng vô thời hạn mà không cần tái khám. Thực tế cho thấy ở những bệnh nhân có tổn thương chít hẹp ống mật chính, UDCA có thể chỉ mang lại cảm giác thuyên giảm giả tạo trong giai đoạn đầu nhưng bệnh lý nền bên dưới vẫn tiến triển âm thầm, cuối cùng dẫn tới suy gan không thể hồi phục nếu không được phẫu thuật kịp thời [4].

Ai cần đặc biệt thận trọng và hướng dẫn sử dụng an toàn, đúng chỉ định

Bên cạnh các trường hợp chống chỉ định tuyệt đối đã nêu, những người có bệnh lý đường tiêu hóa mạn tính như viêm ruột mạn, viêm loét đại trực tràng chảy máu, hoặc người đã cắt đoạn hồi tràng cần hết sức thận trọng khi dùng UDCA. Vì UDCA hấp thu chủ yếu qua đường ruột và can thiệp vào chu trình gan ruột của muối mật, bất kỳ rối loạn hấp thu nào tại ruột non cũng làm thay đổi sinh khả dụng và hiệu lực điều trị của hoạt chất này [2].

Người cao tuổi mắc bệnh lý gan mật kèm theo các khối u chèn ép ác tính vùng rốn gan hoặc tụy cũng là nhóm đối tượng đặc biệt nhạy cảm, đòi hỏi phải được chẩn đoán hình ảnh cẩn thận trước khi kê đơn [3]. Khi sử dụng hoạt chất này, người bệnh bắt buộc phải tuân thủ việc kiểm tra định kỳ các chỉ số sinh hóa máu (men gan, bilirubin, chức năng thận) và siêu âm ổ bụng định kỳ để bác sĩ đánh giá chính xác mức độ lưu thông của hệ thống dẫn mật.

Việc sử dụng UDCA phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định của bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa - gan mật. Người bệnh tuyệt đối không được tự ý mua thuốc về uống hoặc sử dụng các chế phẩm mật gấu trôi nổi trên thị trường. Khi xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm như đau dữ dội hạ sườn phải, sốt cao kèm rét run, vàng da, vàng mắt đậm dần hoặc phân bạc màu, người bệnh phải ngừng ngay mọi loại thuốc đang uống và đến bệnh viện cấp cứu để xử trí tắc nghẽn ngoại khoa kịp thời.

Hoạt chất UDCA chỉ phát huy giá trị trị liệu khi được dùng đúng người, đúng bệnh và đúng thời điểm. Việc hiểu rõ các chống chỉ định tuyệt đối giúp người bệnh tránh được những biến chứng thủng vỡ đường mật khôn lường, bảo vệ sức khỏe và tính mạng của bản thân.