Nhiều gia đình Việt có thói quen hái lá cách (cách vàng, thuộc chi Premna) ăn sống cùng bánh xèo, cá nướng hoặc nấu canh giải nhiệt mỗi ngày. Không ít người tin rằng loại rau vườn này hoàn toàn lành tính, ăn càng nhiều càng mát gan và bổ dưỡng. Liệu việc sử dụng thường xuyên vị thuốc dân gian này có an toàn tuyệt đối cho tất cả mọi người?

Câu trả lời ngắn gọn là không. Dù lá cách mang lại nhiều hoạt tính sinh học, việc dùng thường xuyên với lượng lớn tiềm ẩn rủi ro tương tác thuốc và gây áp lực chuyển hóa. Người có bệnh lý nền tim mạch, người đang dùng thuốc hạ áp, người suy giảm chức năng gan thận mạn tính là những nhóm cần đặc biệt cẩn trọng.

Thành phần dược tính và cơ chế sinh học phức tạp

Các loài thuộc chi Cách (Premna, họ Hoa môi Lamiaceae) không chỉ là rau ăn thông thường mà chứa hệ hoạt chất thực vật phong phú [1]. Một tổng quan năm 2017 ghi nhận hơn 250 hợp chất đã được phân lập từ chi này, chủ yếu gồm diterpenoid, iridoid glycoside, flavonoid, bên cạnh sesquiterpene, lignan và phenylethanoid [1]. Những nhóm chất này tạo ra tác động kháng viêm, chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch và hạ đường huyết trên các mô hình thử nghiệm [1].

Nghiên cứu trên loài Premna schimperi năm 2023 xác định lá chứa flavonoid, terpenoid, tannin, glycoside tim (cardiac glycosides), steroid, phenolic và anthraquinone [2]. Đáng lưu ý, sự hiện diện của cardiac glycoside và các polyphenol hoạt tính cao có thể tác động trực tiếp lên hệ tim mạch và trương lực cơ trơn mạch máu [2]. Chiết xuất ete dầu hỏa từ lá Premna integrifolia còn cho thấy khả năng ức chế sinh tổng hợp oxit nitric (NO) và điều hòa ngược các enzyme như COX-2, 5-LOX, iNOS cùng nhiều cytokine gây viêm [3].

Khi nạp vào cơ thể dồn dập, các hợp chất này can thiệp vào nhiều chuỗi chuyển hóa sinh hóa nội sinh [3]. Khả năng ức chế NO và can thiệp mạch máu kết hợp với cardiac glycoside tự nhiên khiến việc tiêu thụ lượng lớn có thể làm thay đổi huyết áp hoặc tạo gánh nặng bài tiết qua gan và thận, nhất là ở những người vốn đã có cơ quan giải độc suy yếu [2, 7].

Bằng chứng khoa học về độc tính và hoạt tính bảo vệ

Các nghiên cứu tiền lâm sàng đã khảo sát ngưỡng an toàn của chiết xuất lá chi Premna qua nhiều mô hình gặm nhấm.

Một nghiên cứu công bố năm 2021 đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của chiết xuất etyl axetat từ lá Premna integrifolia (hàm lượng phenol đạt 63,10 +- 1,26 mg/g đương lượng axit gallic, flavonoid đạt 75,33 +- 0,23 mg/g đương lượng rutin) trên chuột nhắt trắng ở cả hai giới [4]. Ở thử nghiệm độc tính cấp với các liều đơn từ 300 đến 5.000 mg/kg thể trọng, chuột không bị tử vong, xác định liều gây chết trung bình (LD50) lớn hơn 5.000 mg/kg [4]. Thử nghiệm bán trường diễn cho thấy ở liều uống lên đến 1.000 mg/kg không gây biến đổi trọng lượng cơ thể, lượng ăn uống, chỉ số huyết học, hóa sinh, cấu trúc vi thể gan thận hay men chống oxy hóa gan [4].

Nghiên cứu năm 2023 trên chuột cống dùng chiết xuất cồn 80% từ lá Premna schimperi ghi nhận liều đơn 2.000 mg/kg an toàn trong 14 ngày theo dõi [2]. Ở các liều 200, 400 và 800 mg/kg, chiết xuất này giảm phù chân chuột rõ rệt (p < 0,001) trong viêm cấp và bán cấp, đồng thời giảm dịch rỉ viêm và u hạt ở mô hình mạn tính (p < 0,05) [2].

Nghiên cứu năm 2010 về chiết xuất cồn của Premna corymbosa xác nhận tính an toàn trong thử nghiệm độc tính cấp, đồng thời ghi nhận liều 200 và 400 mg/kg ức chế phản ứng quặn đau do axit axetic lần lượt là 42,57% và 54,67% [5]. Năm 2011, chiết xuất này ở liều đơn 2.000 mg/kg tiếp tục cho thấy an toàn sau 48 giờ trên chuột cống Wistar, đồng thời giảm u hạt ở liều 200 và 400 mg/kg với tỷ lệ ức chế 35,17% và 50,38% [6].

Về tác động bảo vệ gan, nghiên cứu năm 2020 trên chuột cống Wistar cái bị viêm gan do cồn cho thấy chiết xuất lá Premna odorata an toàn ở mức liều cấp lên đến 5 g/kg [7]. Khi dùng liều 500 mg/kg, chiết xuất thô giúp cải thiện men gan AST 143,23%, ALP 48,47%, chiết xuất loại béo cải thiện ALT 66,68% và phục hồi chỉ số chống oxy hóa GSH (tăng 50,32%), giảm chỉ số tổn thương oxy hóa MDA xuống -71% [7].

Trước đó, nghiên cứu năm 2004 trên chuột Wistar bị ngộ độc paracetamol (acetaminophen liều 640 mg/kg) chứng minh tiền xử lý bằng dịch chiết Premna tomentosa liều 750 mg/kg trong 15 ngày đã ngăn chặn sự sụt giảm các enzyme màng tế bào gan như tổng ATPase (vốn giảm 1,63 lần khi nhiễm độc), Mg(2+)ATPase (giảm 1,9 lần), Ca(2+)ATPase (giảm 1,33 lần) và Na(+)K(+)ATPase (giảm 1,73 lần), nhờ hoạt chất limonene [8].

Dù các số liệu trên cho thấy độc tính cấp thấp và tiềm năng bảo vệ cơ quan, giới hạn lớn nhất là toàn bộ dữ liệu hiện tại chỉ dừng ở động vật gặm nhấm và dịch chiết thô [1, 2, 8]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng chuẩn hóa trên cơ thể người để xác định liều an toàn lâu dài, khả năng tích lũy hay tương tác thuốc phức tạp [1].

Ba nhóm người không nên dùng lá cách vàng thường xuyên

Dựa trên thành phần hóa học thực vật và dược lý học thực nghiệm, có ba nhóm đối tượng cần đặc biệt lưu ý và không nên dùng thường xuyên lá cách vàng:

Nhóm thứ nhất là người đang điều trị huyết áp thấp hoặc đang dùng thuốc hạ huyết áp. Chiết xuất lá cách chứa glycoside tim cùng khả năng can thiệp trương lực mạch máu thông qua con đường oxit nitric [2, 7]. Việc tiêu thụ liên tục lượng lớn rau này có thể cộng hưởng với thuốc điều trị tim mạch, gây tụt huyết áp quá mức, dẫn đến hoa mắt, chóng mặt hoặc rối loạn nhịp.

Nhóm thứ hai là người mắc bệnh gan, thận mạn tính hoặc đang dùng các thuốc điều trị chuyển hóa kéo dài. Mặc dù các nghiên cứu cho thấy dịch chiết hỗ trợ giảm men gan khi chuột nhiễm độc cồn hay paracetamol, các thử nghiệm đó đều tiến hành trên tổn thương cấp tính có kiểm soát [5, 6]. Thực tế, chiết xuất thực vật chứa hơn 250 hợp chất khác nhau, bao gồm flavonoid, phenolic, diterpenoid, steroid [2, 8]. Việc gan và thận đã suy giảm chức năng phải liên tục lọc và chuyển hóa một lượng lớn xenobiotics (hợp chất ngoại lai) từ rau dùng đậm đặc mỗi ngày có nguy cơ dẫn tới quá tải chuyển hóa [1, 8].

Nhóm thứ ba là phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú và người chuẩn bị phẫu thuật. Trong y học cổ truyền, một số chế phẩm chứa Premna integrifolia như Dashmoolarishta được ghi nhận dùng chăm sóc sau sinh [4]. Tuy nhiên, dữ liệu an toàn trên thai kỳ chưa được thiết lập đầy đủ. Khả năng kháng viêm thông qua ức chế prostaglandin E2, COX-2 và tác động giảm đau của chiết xuất lá có thể ảnh hưởng đến quá trình đông máu hoặc trương lực cơ tử cung [3, 7].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng lá cách

Nhiều người lầm tưởng "thảo mộc tự nhiên ăn bao nhiêu cũng vô hại". Các nghiên cứu thực nghiệm chứng minh rằng các loài thuộc chi Premna sở hữu hoạt tính dược lý mạnh mẽ như giảm đau, kháng viêm tương đương thuốc thử nghiệm, ức chế phù nề và hạ men gan [2, 3, 5]. Đã có hoạt tính dược lý ắt sẽ đi kèm nguy cơ tác dụng phụ và tương tác nếu lạm dụng quá liều [1].

Một hiểu lầm khác là dùng nước sắc lá cách vàng cô đặc thay thế hoàn toàn thuốc chữa bệnh gan hay tăng huyết áp. Cho đến nay, các bài báo khoa học đều kết luận rằng hoạt chất tinh khiết chịu trách nhiệm sinh học chưa được tách chiết rõ ràng và cần thêm nhiều nghiên cứu tiền lâm sàng cũng như thử nghiệm lâm sàng trước khi ứng dụng y tế [1]. Do đó, tuyệt đối không tự ý bỏ thuốc theo toa để uống nước lá cách điều trị.

Hướng dẫn sử dụng an toàn và hợp lý

Để khai thác giá trị ẩm thực của lá cách vàng mà không gây hại cho sức khỏe, người dân nên áp dụng các nguyên tắc sau:

Về liều lượng và tần suất, chỉ nên xem lá cách là một loại rau gia vị ăn kèm. Một người trưởng thành khỏe mạnh không nên ăn quá 50-70g lá tươi mỗi bữa và chỉ nên dùng 1-2 lần mỗi tuần. Tránh thói quen xay lấy nước cốt uống sống đặc hoặc sắc nước uống liên tục nhiều tuần liền như trà giải nhiệt.

Về cách chế biến, lá cách vàng có thể ăn sống kèm các món cuốn hoặc nấu chín như xào thịt bò, nấu canh cá lóc, canh nghêu. Việc nấu chín giúp giảm bớt một số tinh dầu hăng nồng và giảm áp lực kích ứng dạ dày. Không nên phối hợp cùng lúc nhiều loại lá cây thuốc nam không rõ nguồn gốc khác để tránh xung đột chuyển hóa.

Đối với người đang dùng thuốc điều trị đái tháo đường, tim mạch hay chống đông máu, cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi muốn sử dụng lá cách vàng dưới dạng thực phẩm bổ sung hoặc nước uống đều đặn.

Lá cách vàng là loại rau gia vị mang bản sắc ẩm thực độc đáo và tiềm năng dược tính phong phú với các hoạt chất chống oxy hóa, kháng viêm đã được khoa học ghi nhận bước đầu [1, 2, 8]. Tuy nhiên, tự nhiên không đồng nghĩa với an toàn tuyệt đối khi dùng sai đối tượng và vượt quá liều lượng. Giữ chế độ ăn đa dạng, tiêu thụ chừng mực và lắng nghe cơ thể chính là chìa khóa bảo vệ sức khỏe bền vững nhất.