Nhiều người cao tuổi thường lo lắng khi mắt mờ dần, đọc sách báo khó khăn hoặc nhìn đường thẳng hóa lượn sóng. Đây là dấu hiệu cảnh báo thoái hóa điểm vàng (AMD), nguyên nhân hàng đầu gây mất thị lực không hồi phục ở người lớn tuổi [1]. Lời khuyên bổ sung cá béo hoặc dầu cá xuất hiện nhiều trong đời sống hằng ngày.
Nghiên cứu khoa học xác nhận thói quen ăn cá thường xuyên giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc và tiến triển bệnh thoái hóa điểm vàng [2], [3], [4]. Axit béo omega-3 dồi dào trong thực phẩm này đóng vai trò bảo vệ cấu trúc võng mạc [1].
Cơ chế tác động của dưỡng chất trong cá với mắt
Thoái hóa điểm vàng tổn hại vùng trung tâm thị giác của võng mạc, làm suy giảm khả năng nhìn chi tiết [5], [6]. Bệnh phát triển qua hai thể chính: thể khô gây teo biểu mô sắc tố võng mạc dần dần và thể ướt gây tăng sinh mạch máu bất thường [1], [7].
Axit docosahexaenoic (DHA) là thành phần cấu trúc chính trong các tế bào cảm thụ ánh sáng ở võng mạc [1]. Hoạt chất này điều hòa phản ứng viêm và bảo vệ màng tế bào thị giác trước tổn thương oxy hóa mạn tính [1]. Axit eicosapentaenoic (EPA) đóng vai trò tiền chất tạo ra DHA và phối hợp kiểm soát các phản ứng bệnh lý mạch máu [1].
Bên cạnh omega-3, các sắc tố võng mạc nhóm carotenoid như lutein và zeaxanthin cũng tập trung tại điểm vàng [7]. Dữ liệu quan sát chỉ ra lượng hấp thụ carotenoid này qua chế độ ăn liên quan chặt chẽ tới việc giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng tiến triển [7].
Dữ liệu từ các nghiên cứu dịch tễ lớn trên thế giới
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu AREDS Báo cáo số 23 công bố năm 2010 theo dõi người có lắng đọng drusen hai mắt trong thời gian trung bình 6,3 năm [1]. Đánh giá từ bảng hỏi tần suất thực phẩm cho thấy nhóm ăn nhiều EPA nhất giảm 56% nguy cơ chuyển biến sang teo bản đồ trung tâm (OR 0,44; KTC 95%: 0,23-0,87) [1]. Nhóm tiêu thụ kết hợp cả EPA và DHA cao nhất cũng giảm 55% nguy cơ tiến triển thể bệnh này (OR 0,45; KTC 95%: 0,23-0,90) [1]. Lượng DHA đơn độc ban đầu cho thấy liên quan giảm nguy cơ, song mối liên hệ này không còn ý nghĩa thống kê trong mô hình đa biến đầy đủ [1].
Năm 2012, nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu kéo dài trung bình 10 năm trên 38.022 nữ nhân viên y tế tại Mỹ ghi nhận 235 trường hợp mắc AMD mới [5]. Phụ nữ ở nhóm tiêu thụ DHA cao nhất có nguy cơ mắc bệnh giảm 38% so với nhóm thấp nhất (RR 0,62; KTC 95%: 0,44-0,87) [5]. Với EPA, mức giảm nguy cơ là 34% (RR 0,66; KTC 95%: 0,48-0,92) [5]. Phụ nữ ăn từ 1 khẩu phần cá trở lên mỗi tuần giảm 42% nguy cơ phát triển thoái hóa điểm vàng so với nhóm ăn dưới 1 bữa mỗi tháng (RR 0,58; KTC 95%: 0,38-0,87) [5].
Nghiên cứu cắt ngang thuộc khảo sát Salisbury Eye Evaluation năm 2014 trên 2.520 cư dân từ 65 đến 84 tuổi ghi nhận nhóm mắc AMD tiến triển ít ăn cá và hải sản giàu omega-3 hơn hẳn nhóm bình thường (OR 0,4; KTC 95%: 0,2-0,8) [8]. Lượng cua và hàu giàu kẽm đơn độc không cho thấy liên hệ rõ ràng với tình trạng bệnh trong phân tích này [8].
Nghiên cứu cắt ngang trên 5.843 người Hàn Quốc từ 40 tuổi trở lên thuộc khảo sát KNHANES công bố năm 2019 cũng chỉ ra mối liên hệ tương tự [6]. Nhóm người có tần suất ăn cá cao hơn (nhóm tứ phân vị thứ 3 so với nhóm 1) giảm tỷ lệ mắc AMD giai đoạn sớm [6]. Đậu đỗ cũng được ghi nhận giúp giảm tỷ lệ AMD giai đoạn muộn trong quần thể này [6].
Các phân tích gộp nói gì về hiệu quả tổng hợp?
Phân tích gộp năm 2008 thu thập 9 nghiên cứu trên 88.974 người với 3.203 ca bệnh cho thấy tiêu thụ nhiều omega-3 giảm 38% nguy cơ AMD giai đoạn muộn (OR 0,62; KTC 95%: 0,48-0,82) [2]. Ăn cá ít nhất 2 lần mỗi tuần giảm 24% nguy cơ AMD sớm (OR 0,76; KTC 95%: 0,64-0,90) và giảm 33% nguy cơ AMD muộn (OR 0,67; KTC 95%: 0,53-0,85) [2].
Phân tích gộp năm 2016 trên 8 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu với 128.988 người và 4.202 ca bệnh cho thấy ăn cá giảm 24% nguy cơ mắc AMD nói chung (RR 0,76; KTC 95%: 0,65-0,90) [4]. Mức giảm xuất hiện ở cả giai đoạn sớm (RR 0,83; KTC 95%: 0,72-0,96) lẫn giai đoạn muộn (RR 0,76; KTC 95%: 0,60-0,97) [4]. Tác dụng bảo vệ giữ vững ở cả nhóm nghiên cứu theo dõi dưới 10 năm lẫn trên 10 năm, với mối liên hệ tuyến tính theo lượng ăn [4]. Cá thịt sẫm màu cho hiệu quả giảm nguy cơ 32% (RR 0,68; KTC 95%: 0,46-0,99), riêng cá ngừ giúp giảm 42% nguy cơ (RR 0,58; KTC 95%: 0,47-0,71) [4].
Nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2019 tổng hợp dữ liệu 26 bài báo trên 211.676 đối tượng và 7.154 ca bệnh xác nhận ăn cá giảm 18% nguy cơ mắc AMD tổng thể (RR 0,82; KTC 95%: 0,75-0,90) [3]. Tỷ lệ này giảm 16% ở thể sớm (RR 0,84; KTC 95%: 0,73-0,97) và 21% ở thể muộn (RR 0,79; KTC 95%: 0,70-0,90) [3]. Ngược lại, ăn nhiều thịt đỏ tăng 17% nguy cơ AMD sớm (RR 1,17; KTC 95%: 1,02-1,34), tiêu thụ nhiều cồn tăng 20% nguy cơ mắc bệnh (RR 1,20; KTC 95%: 1,04-1,39) [3].
Giới hạn của bằng chứng hiện có
Bằng chứng bảo vệ mắt của cá chủ yếu đến từ các nghiên cứu quan sát dịch tễ, cắt ngang và đoàn hệ dài hạn [2], [4]. Nhóm tác giả phân tích gộp năm 2008 chỉ ra chưa có đủ bằng chứng từ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng để đưa khuyến nghị cá thành phác đồ phòng bệnh chuẩn [2].
Báo cáo năm 2007 cho biết công thức AREDS gồm vitamin C, E, beta-carotene và kẽm đã chứng minh giảm 25% nguy cơ tiến triển thành bệnh nặng ở người có nguy cơ trung bình hoặc đã bị một mắt [7]. Lợi ích thực sự của việc bổ sung omega-3 và lutein/zeaxanthin dạng viên uống cần chờ kết quả thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên quy mô lớn AREDS 2 khẳng định thêm [7].
Chế độ ăn của người tham gia nghiên cứu quan sát thường được thu thập qua bảng hỏi nhớ lại tần suất thực phẩm [1], [5], [8]. Phương pháp này có thể tồn tại sai số tự nhớ hoặc sai lệch do lối sống lành mạnh tổng thể của nhóm người chuộng ăn cá [2], [3].
Hiểu lầm thường gặp về ăn cá sáng mắt
Quan niệm sai lầm phổ biến là ăn cá giúp khôi phục thị lực đã mất hoặc chữa khỏi thoái hóa điểm vàng thể nặng. Tổn thương tế bào nón và tế bào que ở biểu mô võng mạc một khi đã teo biến không thể hồi sinh nhờ thực phẩm [1], [5]. Dinh dưỡng chỉ đóng vai trò hỗ trợ kiểm soát tổn thương lan rộng và hạn chế tỷ lệ mắc mới [1], [5].
Sai lầm khác là dùng dầu cá tùy tiện thay thế hoàn toàn bữa ăn tự nhiên. Cá tự nhiên cung cấp cấu trúc chất béo tự nhiên cùng nhiều khoáng chất phối hợp, không tương đương với việc dùng viên uống liều cao đơn lẻ [2], [7].
Nhiều người nghĩ ăn bất cứ loại cá nào cũng đem lại tác dụng như nhau. Bằng chứng thực tế cho thấy cá thịt sẫm màu giàu omega-3 phát huy hiệu quả phòng ngừa rõ nét hơn các loại cá thịt trắng ít béo [4].
Nhóm đối tượng cần thận trọng
Người cao tuổi đang sử dụng thuốc chống đông máu hoặc chuẩn bị phẫu thuật cần kiểm soát lượng cá béo và viên dầu cá tiêu thụ, tránh ảnh hưởng đến quá trình đông máu tự nhiên.
Người có tiền sử dị ứng hải sản không nên cố gắng ăn cá biển đậm màu mà cần tham vấn bác sĩ để tìm nguồn dưỡng chất thay thế an toàn cho mắt.
Bệnh nhân mắc các bệnh gan, thận chuyển hóa hoặc gút cần điều chỉnh khẩu phần đạm động vật cân đối theo hướng dẫn chuyên khoa dinh dưỡng.
Cách áp dụng dinh dưỡng thực tế vào bữa ăn
Dựa trên dữ liệu dịch tễ, duy trì ăn cá từ 1 đến 2 lần mỗi tuần mang lại hiệu quả bảo vệ điểm vàng tốt nhất [2], [5]. Nên ưu tiên các loại cá thịt sẫm màu giàu DHA và EPA như cá ngừ, cá thu, cá hồi, cá trích hoặc cá nục [4].
Chế biến cá bằng phương pháp hấp, kho nhạt hoặc nấu canh thanh mát giúp bảo tồn tối đa cấu trúc axit béo omega-3 không no. Tránh chiên rán ngập dầu ở nhiệt độ cao vì nhiệt độ làm oxy hóa chất béo có lợi và hình thành chất oxy hóa có hại.
Nên kết hợp cá cùng đĩa rau củ đa dạng màu sắc và các loại hạt đậu giàu chất chống oxy hóa [7], [6]. Thói quen này hỗ trợ hấp thu trọn vẹn các carotenoid tan trong chất béo như lutein và zeaxanthin [7]. Hạn chế tiêu thụ thịt đỏ quá mức và cắt giảm đồ uống có cồn để không làm triệt tiêu tác dụng bảo vệ của chế độ ăn giàu cá [3].
Duy trì thói quen ăn cá điều độ là bước phòng ngừa thoái hóa điểm vàng chủ động và kinh tế [2], [3]. Dinh dưỡng đóng vai trò bảo vệ nền tảng, không thay thế cho việc kiểm tra đáy mắt định kỳ tại chuyên khoa mắt.








