Nhu cầu folate thai kỳ và câu hỏi về rau xanh

Folate (vitamin B9) là dưỡng chất thiết yếu đối với phụ nữ mang thai, tham gia trực tiếp vào chu trình chuyển hóa một carbon, hỗ trợ phân chia tế bào và ngăn ngừa khuyết tật bẩm sinh [1]. Nhiều thai phụ tìm kiếm các giải pháp tự nhiên từ mâm cơm hàng ngày để bổ sung vi chất này, trong đó cải thìa (cải chíp) thường xuyên được nhắc tới.

Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học thực tế cho thấy chế độ ăn uống đơn thuần khó đáp ứng đủ lượng folate khuyến nghị cho phụ nữ mang thai [1, 2, 4]. Cải thìa hay các loại rau củ nói chung chỉ đóng góp một phần khiêm tốn vào tổng lượng folate nạp vào cơ thể mẹ bầu, không thể thay thế hoàn toàn viên vi chất bổ sung chuyên biệt [1, 4].

Vì sao chế độ ăn thông thường khó cung cấp đủ folate?

Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần tăng cường ăn rau xanh như cải thìa là có thể đáp ứng trọn vẹn nhu cầu vitamin B9 thai kỳ. Mặc dù rau xanh cùng trái cây là nguồn cung cấp vi chất quan trọng, sinh khả dụng của folate tự nhiên trong thực phẩm chỉ bằng khoảng 50% so với axit folic dạng bổ sung [2]. Cơ thể người hấp thu vi chất từ thức ăn tự nhiên kém hiệu quả hơn đáng kể so với dạng tổng hợp [2].

Bên cạnh đó, việc bổ sung vi chất đóng vai trò then chốt vì lượng folate từ khẩu phần ăn tự nhiên tại nhiều quần thể phụ nữ mang thai thường thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn khuyến cáo [2, 3]. Các nghiên cứu dinh dưỡng cho thấy việc chỉ dựa vào bữa ăn hàng ngày dễ dẫn tới thiếu hụt folate huyết thanh hoặc hồng cầu [1, 2].

Các nghiên cứu nói gì về mức tiêu thụ folate của mẹ bầu?

Tình trạng thiếu hụt folate trong chế độ ăn thai kỳ được ghi nhận tại nhiều quốc gia qua nhiều giai đoạn nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học:

Một nghiên cứu theo dõi tiến cứu năm 2008 tại Nhật Bản trên 197 phụ nữ mang thai đơn mức tiêu thụ folate được đánh giá 3 lần ở tuần thai 12, tuần 20 và tuần 32 bằng bảng hỏi tiền sử ăn uống [3]. Kết quả cho thấy lượng folate ăn vào trung bình tăng từ 248,5 ± 113,1 microgam/ngày ở tam cá nguyệt đầu lên 275,4 ± 100,2 microgam/ngày ở tam cá nguyệt thứ ba [3]. Mức này thấp hơn nhiều so với mức khuyến nghị 440 microgam/ngày, và chỉ 10% bà mẹ đạt mức chuẩn [3]. Nghiên cứu chỉ ra ở tam cá nguyệt thứ ba, nồng độ homocysteine huyết tương cao hơn rõ rệt ở nhóm nạp folate dưới 250 microgam/ngày [3]. Giới hạn là nghiên cứu không tìm thấy liên quan trực tiếp giữa mức folate ăn vào với cân nặng sơ sinh [3].

Một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2021 tại Thành Đô (Trung Quốc) trên 1.579 phụ nữ mang thai đơn từ 8 đến 14 tuần cho thấy lượng folate ăn vào từ thực phẩm tự nhiên chỉ đạt trung vị 145,4 microgam/ngày [4]. Tổng lượng folate trung vị là 865,8 microgam DFE/ngày chủ yếu nhờ lượng viên bổ sung axit folic với trung vị 400 microgam/ngày [4]. Tỷ lệ thiếu hụt folate trong nghiên cứu là 12,1% [4]. Nguy cơ thiếu folate ở phụ nữ sinh con rạ cao hơn con so, trong khi nhóm thu nhập trung bình và cao có nguy cơ thiếu thấp hơn [4].

Nghiên cứu năm 2015 tại Canada trên 368 phụ nữ mang thai ghi nhận có tới 41% thai phụ có mức nạp folate từ chế độ ăn thấp hơn nhu cầu trung bình ước tính (520 microgam DFE/ngày) [1]. Việc bổ sung viên vi chất giúp thai phụ đạt khuyến nghị, với trung vị axit folic bổ sung đạt 1.000 microgam/ngày [1]. Đáng chú ý, rau xanh và trái cây cùng thực phẩm tăng cường đóng góp khoảng 57% vào tổng lượng folate từ chế độ ăn [1].

Một nghiên cứu năm 2006 tại Bắc Mỹ trên phụ nữ mang thai ở tuần 36 (61 người) và sau sinh ghi nhận 36% thai phụ có khẩu phần folate ăn vào không đạt nhu cầu ước tính (520 microgam DFE/ngày) dù đã có chính sách bắt buộc tăng cường axit folic vào thực phẩm [5]. Ngũ cốc đóng góp khoảng 41% lượng folate, trong khi rau củ quả đóng góp khoảng 21% [5].

Tại Canada, dữ liệu từ đoàn hệ CHILD trên 2.996 thai phụ ở tuần thứ 18 cho thấy lượng folate từ bữa ăn trung bình đạt 575 microgam DFE/ngày [6]. Nghiên cứu cũng lưu ý 71,6% dùng viên vi chất thai kỳ hàng ngày và có tới 45,3% số người dùng viên axit folic riêng lẻ bị vượt ngưỡng dung nạp trên (1.000 microgam/ngày) [6].

Nghiên cứu năm 2001 trên 109 phụ nữ mang thai so sánh nhóm ăn chay duy trì rau xanh lâu năm với nhóm ăn thịt ít và chế độ ăn phương Tây [7]. Kết quả, nồng độ folate trong huyết tương và hồng cầu cao nhất ở nhóm ăn chay trứng-sữa và ăn ít thịt [7]. Nhóm ăn chay trường giàu rau xanh giảm thiểu nguy cơ thiếu hụt folate hồng cầu (<320 nmol/L) [7].

Trước đó, một phân tích năm 1979 trên 87 thai phụ cũng chỉ ra mức nạp folate qua thức ăn trung bình dưới một phần ba mức khuyến nghị do năng lượng bổ sung trong thai kỳ thường đến từ các thực phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp [8].

Lợi ích của rau củ và giới hạn của bằng chứng

Chế độ ăn nhiều rau xanh rõ ràng đem lại lợi ích trong việc cải thiện nồng độ folate dự trữ trong hồng cầu và huyết tương của thai phụ [7]. Các nguồn rau củ cung cấp từ 21% đến 57% tổng lượng folate ăn vào hàng ngày tùy thuộc vào thói quen và sự hiện diện của thực phẩm bổ sung [1, 4].

Tuy nhiên, cần nhìn nhận khách quan rằng hiện không có nghiên cứu riêng lẻ nào xác định chính xác một khẩu phần cải thìa cụ thể cung cấp bao nhiêu phần trăm nhu cầu của thai phụ hoặc mức độ hao hụt nhiệt độ chi tiết khi nấu chín. Dữ liệu khoa học chỉ đo lường nhóm rau củ nói chung [1, 4, 7]. Bằng chứng cho thấy việc chỉ trông cậy vào rau ăn hàng ngày mà bỏ qua chỉ định bổ sung vi chất có thể khiến mẹ bầu rơi vào nhóm thiếu hụt dinh dưỡng [1, 2, 4].

Những hiểu lầm thường gặp khi bổ sung folate

Nhiều người tin rằng "uống viên vi chất là thừa thãi nếu bữa ăn có nhiều rau xanh". Đây là quan niệm sai lầm phổ biến. Các số liệu khoa học chứng minh ngay cả khi duy trì khẩu phần ăn thông thường, phần lớn phụ nữ mang thai vẫn không đạt ngưỡng dinh dưỡng folate khuyến nghị nếu không có viên uống bổ sung [1, 2, 4].

Hiểu lầm thứ hai là "càng bổ sung nhiều viên uống càng tốt". Nghiên cứu chỉ ra có tới 13% thai phụ dùng viên bổ sung quá mức cho phép hoặc vượt ngưỡng dung nạp trên 1.000 microgam/ngày [3, 5]. Lượng folate nạp vào quá mức cũng có thể đem lại những tác động bất lợi đến sự nhạy cảm bệnh lý ở trẻ [1].

Ai nên thận trọng?

Phụ nữ mang thai con thứ (sinh con rạ) có nguy cơ thiếu folate cao hơn so với người mang thai lần đầu, do đó cần được rà soát chế độ dinh dưỡng cẩn thận hơn [4].

Phụ nữ có chế độ ăn năng lượng thấp hoặc chất lượng bữa ăn kém, nhóm người có thu nhập thấp cũng là đối tượng dễ thiếu hụt folate ăn vào [2, 3, 8].

Những người tự ý sử dụng nhiều loại vitamin tổng hợp cùng lúc cần hết sức lưu ý ngưỡng tối đa 1.000 microgam/ngày của axit folic để tránh nguy cơ quá liều [3, 5]. Luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng trước khi thay đổi liều lượng viên bổ sung, đặc biệt khi có các bệnh lý nền.

Cách áp dụng thực tế cho mẹ bầu

Việc đưa cải thìa và các loại rau xanh vào thực đơn là thói quen lành mạnh, góp phần cung cấp vi chất tự nhiên và chất xơ cho thai kỳ [1, 7]. Để tối ưu hóa nguồn folate từ rau củ, thai phụ nên ăn lượng vừa phải rau tươi, chế biến chín tới, tránh đun nấu quá nhừ để bảo tồn tối đa dưỡng chất hòa tan trong nước.

Cải thìa nên được phối hợp đa dạng cùng các nguồn thực phẩm khác như ngũ cốc, đậu và trứng sữa trong các bữa ăn hàng ngày [1, 4]. Quan trọng nhất, mẹ bầu không nên dùng rau xanh để thay thế viên uống vi chất folate được bác sĩ chỉ định [1, 4].

Chế độ dinh dưỡng trong thai kỳ đòi hỏi sự cân bằng và cẩn trọng. Cải thìa là món rau tốt giúp làm phong phú bữa ăn và đóng góp một phần folate tự nhiên, song mẹ bầu cần kết hợp hài hòa giữa thực phẩm lành mạnh và viên vi chất theo đúng hướng dẫn y khoa.