Cây cất hơi, tên khoa học Drymaria cordata Willd. thuộc họ Cẩm chướng (Caryophyllaceae), mọc hoang tại nhiều vùng ẩm ướt ở nước ta [1]. Dân gian thường dùng cây này nấu nước uống để chữa cảm sốt, viêm họng, giảm ho dai dẳng. Nhiều người thắc mắc liệu hiệu quả trị bệnh của loài cây mọc dại này đã được chứng minh khoa học hay chỉ là lời đồn truyền miệng.
Thực tế, các nghiên cứu dược lý thực nghiệm đã bước đầu xác nhận khả năng giảm ho, hạ sốt và giảm đau của cây cất hơi [1, 2]. Tuy vậy, toàn bộ dữ liệu mới ghi nhận trên chuột thí nghiệm, hoàn toàn vắng bóng thử nghiệm lâm sàng kiểm chứng ở người.
Cơ chế tác động dược lý bước đầu được làm rõ
Trong cơ thể sinh vật, phản xạ ho và sốt sinh ra do các chất trung gian hóa học kích thích thụ thể ngoại vi hoặc trung tâm điều hòa thân nhiệt ở não bộ. Chiết xuất cất hơi chứa các hoạt chất thực vật có khả năng can thiệp vào quá trình truyền tín hiệu này [2].
Các nhà khoa học nhận định chiết xuất toàn cây cất hơi mang hoạt tính giảm đau, hạ sốt thông qua cả cơ chế ngoại vi lẫn cơ chế ức chế thần kinh trung ương [2]. Đối với phản xạ ho, các hợp chất trong cây tạo tác động ức chế thụ thể tiếp nhận kích thích ở đường hô hấp, làm dịu cơn co thắt phế quản tương tự như một số loại thuốc ức chế ho tiêu chuẩn [3].
Nghiên cứu về khả năng hạ sốt và giảm đau
Năm 2012, một nghiên cứu dược lý công bố trên tạp chí khoa học quốc tế đã kiểm tra tác dụng hạ sốt của chiết xuất nước toàn cây cất hơi (Drymaria cordata) [2]. Thí nghiệm thực hiện trên động vật gặm nhấm với ba mô hình gây sốt thực nghiệm gồm tiêm men bia (yeast), hợp chất 2,4-dinitrophenol (2,4-DNP) và d-amphetamine [2].
Ở mô hình sốt do 2,4-DNP và men bia, chiết xuất cất hơi dùng đường uống ở các mức liều 100, 200 và 400 mg/kg thể trọng đã ức chế sự tăng nhiệt độ cơ thể phụ thuộc vào liều lượng [2]. Hiệu quả hạ sốt đạt đỉnh ở liều 400 mg/kg, mức độ tác dụng tương đương với thuốc đối chứng acid acetylsalicylic (ASA - aspirin) liều 100 mg/kg [2].
Đối với mô hình sốt kích thích bằng d-amphetamine, chiết xuất thực vật này thể hiện tác dụng hạ nhiệt phụ thuộc theo cả liều lượng lẫn thời gian [2]. Đỉnh tác dụng ghi nhận ở mức liều 200 mg/kg, vượt trội hơn so với kết quả ghi nhận từ nhóm dùng thuốc đối chứng ASA [2].
Bên cạnh hạ sốt, nghiên cứu năm 2012 cũng đánh giá hoạt tính giảm đau qua ba thử nghiệm: quặn đau do acid acetic, thử nghiệm formalin và kẹp đuôi chuột [2]. Cất hơi ở liều 100, 200 và 400 mg/kg dạng uống đều làm giảm đáng kể các phản ứng đau (p < 0,05), cho kết quả tương đương thuốc giảm đau morphin (2 mg/kg tiêm dưới da) và aspirin (100 mg/kg đường uống) [2].
Hoạt tính giảm ho trên mô hình thực nghiệm
Một nghiên cứu thực nghiệm công bố năm 1997 đã đi sâu kiểm tra hoạt tính trị ho của cất hơi [3]. Nhóm nghiên cứu dùng chiết xuất methanol của cây Drymaria cordata trên mô hình gây ho bằng khí lưu huỳnh đioxit ($SO_2$) ở chuột nhắt trắng [3].
Thử nghiệm tiến hành so sánh đối chứng giữa các mức liều chiết xuất cất hơi với nhóm chứng và nhóm dùng codein phosphat – một loại thuốc giảm ho trung ương kinh điển [3]. Kết quả cho thấy chiết xuất thực vật ức chế các cơn ho rõ rệt theo xu hướng tăng dần theo liều dùng [3].
Cụ thể, mức liều chiết xuất 100 mg/kg ức chế 11,6% phản xạ ho so với nhóm chứng [3]. Khi nâng liều lên 200 mg/kg, tỷ lệ ức chế cơn ho đạt 31,6% [3]. Ở mức liều cao nhất 400 mg/kg, chiết xuất cất hơi làm giảm tới 51,5% cơn ho kích thích bởi khí độc, mang lại hiệu lực giảm ho tương đương với codein phosphat [3].
Bằng chứng động vật chưa đủ áp dụng cho người
Dù số liệu thực nghiệm trên chuột rất tích cực, khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thực tế điều trị lâm sàng ở người vẫn còn rất lớn. Các nghiên cứu hiện có chỉ thực hiện trên chuột với số lượng giới hạn và điều kiện phơi nhiễm nhân tạo [1, 2].
Sinh lý động vật gặm nhấm khác biệt so với chuyển hóa ở người. Đến nay, y văn chưa ghi nhận bất kỳ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nào được tiến hành trên bệnh nhân ho hoặc sốt. Cơ chế chuyển hóa chiết xuất cất hơi qua gan, thận người, liều tối ưu an toàn cũng như độc tính tích lũy dài ngày vẫn chưa được làm rõ.
Hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược
Nhiều người mặc định cây cất hơi mọc tự nhiên nên an toàn tuyệt đối, có thể dùng thay thế thuốc tây y. Đây là quan niệm sai lầm. Thảo dược tự nhiên vẫn chứa nhiều hợp chất hữu cơ khác nhau và có thể gây dị ứng, ngộ độc gan hoặc quá tải thận nếu dùng đậm đặc.
Một sai lầm nguy hiểm khác là dùng cất hơi tự chế để cắt sốt cao hoặc ho lâu ngày mà không đo nhiệt độ hay thăm khám. Ho ra máu, sốt cao co giật hay ho do viêm phổi nhiễm trùng cần điều trị y tế khẩn cấp, việc tự ý dùng lá cây có thể làm mất thời gian vàng cứu chữa.
Những đối tượng cần tuyệt đối thận trọng
Người bệnh sốt cao liên tục không hạ, trẻ nhỏ và người cao tuổi có bệnh nền tim mạch, suy gan, suy thận không được tự ý sắc uống cây cất hơi. Sự thiếu hụt dữ liệu an toàn trên người khiến nguy cơ tương tác thuốc trở nên khó lường.
Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú tuyệt đối không dùng loại cây này. Chưa có nghiên cứu xác nhận các chất trong cây cất hơi không gây co bóp tử cung hay bài tiết qua sữa mẹ.
Khuyến nghị áp dụng an toàn trong đời sống
Người dân chỉ nên coi cất hơi như một vị thuốc dân gian hỗ trợ các triệu chứng nhẹ của cảm mạo thông thường. Khi thu hái, cần rửa sạch đất cát, ngâm nước muối loãng nhằm loại bỏ ký sinh trùng và trứng giun sán bám trên thân cây ẩm.
Dùng lượng vừa phải bằng cách hãm hoặc sắc nước uống ấm, không dùng nước thuốc thay thế nước lọc hàng ngày. Khi đang uống bất kỳ loại thuốc hạ sốt, kháng sinh hay thuốc giảm đau theo đơn, phải hỏi ý kiến bác sĩ điều trị trước khi kết hợp dùng thảo mộc để phòng ngừa quá liều hoặc tương tác thuốc bất lợi.
Cây cất hơi mang hoạt tính giảm ho, hạ nhiệt rõ rệt trong các mô hình động vật, hỗ trợ cho kinh nghiệm sử dụng của y học cổ truyền. Tuy nhiên, người dân cần giữ cái nhìn cẩn trọng, không tự biến mình thành đối tượng thử nghiệm khi chưa có chứng cứ lâm sàng đầy đủ.








