Thói quen ăn uống hiện đại với nhiều đồ ăn nhanh, thịt chế biến sẵn và thiếu hụt rau xanh đang khiến nhiều người lo ngại về sức khỏe đường tiêu hóa. Trong số các bệnh lý ác tính, ung thư đại trực tràng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong nhưng lại có mối liên hệ mật thiết với chế độ ăn uống mỗi ngày [4, 7]. Đứng trước thực tế đó, chế độ ăn Địa Trung Hải – nổi tiếng với nguồn thực phẩm dồi dào chất xơ từ thực vật và hạn chế thịt đỏ – thường được nhắc đến như một lá chắn bảo vệ đại trực tràng hiệu quả [7, 8].

Nhiều nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn đã chỉ ra rằng việc duy trì lối ăn uống kiểu Địa Trung Hải thực sự có mối liên hệ nghịch với nguy cơ khởi phát ung thư đại trực tràng, mặc dù mức độ bảo vệ có sự khác biệt tùy theo giới tính, vị trí giải phẫu của khối u và quần thể nghiên cứu [1, 2, 3]. Các tính toán dịch tễ học ước tính rằng có tới 25% số ca mắc ung thư đại trực tràng tại các quốc gia phương Tây phát triển có thể được ngăn ngừa nếu người dân chuyển hướng sang áp dụng thực đơn truyền thống lành mạnh này [1].

Cơ chế sinh học: Lá chắn từ chất xơ và hạn chế thịt đỏ

Tại các xã hội phương Tây, nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng thường cao hơn do thói quen tiêu thụ nhiều thịt đỏ và thịt chế biến sẵn [2]. Chế độ ăn Địa Trung Hải truyền thống mang đặc trưng nổi bật là việc ưu tiên thực phẩm có nguồn gốc thực vật, duy trì lượng tiêu thụ thịt đỏ ở mức tương đối thấp kết hợp với nguồn chất béo chính là dầu ô liu [1]. Sự phối hợp này tạo nên một cơ chế kép giúp bảo vệ lớp niêm mạc đại trực tràng trước các tác nhân sinh ung [7, 8].

Các thành phần điển hình của mô hình Địa Trung Hải bao gồm dầu ô liu, rượu vang đỏ và cà chua [2]. Các nghiên cứu trong ống nghiệm ghi nhận rằng các hợp chất polyphenol trong dầu ô liu, hoạt chất resveratrol trong rượu vang đỏ và lycopene trong cà chua thể hiện rõ khả năng can thiệp vào các con đường phân tử gây ung thư [2]. Song song với đó, việc cắt giảm thịt đỏ giúp hạn chế tiếp xúc niêm mạc với các sản phẩm phụ độc hại trong quá trình chế biến, trong khi hàm lượng chất xơ và chất chống oxy hóa cao từ rau quả hỗ trợ duy trì môi trường lòng ruột khỏe mạnh [7, 8].

Bằng chứng dịch tễ từ các quần thể nghiên cứu châu Âu

Để làm rõ giá trị phòng ngừa của mô hình ăn uống này, hàng loạt nghiên cứu thuần tập tiến cứu quy mô lớn đã được triển khai tại châu Âu [1, 3, 5]. Đáng chú ý nhất là phân tích quy mô lớn thuộc Nghiên cứu Triển vọng của châu Âu về Ung thư và Dinh dưỡng (EPIC) theo dõi 5.296.617 người-năm, qua đó phát hiện 4.355 ca mắc mới ung thư đại trực tràng [3]. Nghiên cứu đã đánh giá mức độ tuân thủ dựa trên hai thang điểm 10 đơn vị là Thang điểm chế độ ăn Địa Trung Hải sửa đổi (MMDS) và Thang điểm theo trung tâm (CSMMDS) [3]. Kết quả cho thấy nhóm có mức độ tuân thủ cao nhất (6–9 điểm) giảm lần lượt 8% và 11% nguy cơ ung thư đại trực tràng so với nhóm tuân thủ thấp nhất (0–3 điểm), với tỷ số nguy cơ (HR) của MMDS là 0,89 (khoảng tin cậy 95%: 0,80 - 0,99) [3]. Mỗi mức tăng 2 điểm trên thang điểm có liên quan đến việc giảm từ 3% đến 4% nguy cơ ung thư (HR cho MMDS: 0,96; KTC 95%: 0,92 - 1,00), biểu hiện rõ hơn ở phụ nữ và ung thư đại tràng [3].

Tại Ý, phân tích trên 45.275 người tham gia nhánh EPIC Ý được theo dõi trung bình 11,28 năm đã ghi nhận 435 trường hợp mắc bệnh [2, 5]. Điểm Chỉ số Địa Trung Hải Ý (Italian Mediterranean Index) có mối liên hệ nghịch rõ rệt với nguy cơ ung thư: nhóm đạt điểm cao nhất có mức giảm nguy cơ tới 50% so với nhóm thấp nhất (HR 0,50; KTC 95%: 0,35 - 0,71; P-trend = 0,043) [2, 5]. Tác dụng bảo vệ này không có sự khác biệt giữa hai giới [2, 5].

Một công trình khác thực hiện trên 35.372 phụ nữ thuộc Nghiên cứu đoàn hệ Phụ nữ Vương quốc Anh (UK Women's Cohort Study), với thời gian theo dõi trung vị 17,4 năm, đã ghi nhận 465 trường hợp ung thư đại trực tràng [4]. Các nhà nghiên cứu dùng thang điểm 10 thành phần và nhận thấy mỗi mức tăng 2 điểm tuân thủ giúp giảm 12% nguy cơ chung (HR 0,88; KTC 95%: 0,78 - 0,99; P-trend = 0,03) [4].

Mức độ bảo vệ khác biệt theo vị trí khối u: Đại tràng hay trực tràng?

Một phát hiện đáng chú ý từ dữ liệu dịch tễ là chế độ ăn Địa Trung Hải không tác động đồng đều lên mọi phân đoạn của ống tiêu hóa dưới [1, 2, 5]. Đường ruột được chia thành đại tràng gần, đại tràng xa và trực tràng; mỗi vị trí lại có phản ứng khác nhau đối với mô hình dinh dưỡng này [2, 5].

Nghiên cứu trên phụ nữ Anh cho thấy hiệu quả bảo vệ tập trung mạnh mẽ nhất ở trực tràng [4]. Cứ mỗi mức tăng 2 điểm trên thang điểm Địa Trung Hải, nguy cơ ung thư trực tràng giảm tới 31% (HR 0,69; KTC 95%: 0,56 - 0,86) [4]. Thậm chí, nhóm phụ nữ tuân thủ cao nhất có tỷ lệ giảm nguy cơ tuyến tính lên tới 62% so với nhóm thấp nhất (HR 0,38; KTC 95%: 0,20 - 0,74; P-trend < 0,001), trong khi mối liên hệ đối với ung thư đại tràng lại khá yếu (P-trend = 0,41) [4].

Dữ liệu từ đoàn hệ Ý cũng ủng hộ xu hướng bảo vệ đặc hiệu theo vị trí giải phẫu [2, 5]. Điểm số Địa Trung Hải cao gắn liền với việc giảm nguy cơ ung thư đại tràng nói chung (HR 0,54; KTC 95%: 0,36 - 0,81), ung thư đại tràng xa (HR 0,44; KTC 95%: 0,26 - 0,75) và ung thư trực tràng (HR 0,41; KTC 95%: 0,20 - 0,81) [2, 5]. Tuy nhiên, chế độ ăn này không cho thấy tác dụng bảo vệ có ý nghĩa thống kê đối với ung thư đại tràng gần [2, 5].

Giới hạn của bằng chứng và những mâu thuẫn cần lưu ý

Mặc dù có nhiều số liệu khả quan, người đọc cần hiểu rằng các kết quả nghiên cứu dịch tễ về chế độ ăn Địa Trung Hải và ung thư đại trực tràng vẫn tồn tại sự thiếu nhất quán giữa các quốc gia và thiết kế nghiên cứu [1, 4]. Không phải thử nghiệm hay đoàn hệ nào cũng tìm ra mối liên hệ bảo vệ rõ ràng [2, 4, 6].

Điển hình là Nghiên cứu Đoàn hệ Hà Lan (NLCS) theo dõi 120.852 người trong suốt 20,3 năm với 1.993 ca ung thư nam giới và 1.574 ca nữ giới [5]. Đánh giá qua thang điểm aMEDr (không bao gồm rượu) ghi nhận tỷ số nguy cơ cho mỗi mức tăng 2 điểm là 1,04 (KTC 95%: 0,95 - 1,13) ở nam và 0,97 (KTC 95%: 0,88 - 1,07) ở nữ, hoàn toàn không có ý nghĩa thống kê bảo vệ ở cả đại tràng, đại tràng gần, đại tràng xa hay trực tràng [5]. Tương tự, nghiên cứu tiến cứu theo dõi 87.256 phụ nữ và 45.490 nam giới kéo dài đến 26 năm tại Mỹ cũng không tìm thấy mối liên quan giữa điểm số aMed và nguy cơ ung thư đại trực tràng, dù chế độ ăn DASH trong cùng nghiên cứu này lại giúp giảm nguy cơ (RR gộp 0,80; KTC 95%: 0,70 - 0,91) [2, 6].

Sự khác biệt này còn xuất hiện theo yếu tố giới tính [6]. Trong nghiên cứu quy mô lớn NIH-AARP với 492.382 người tham gia, chế độ Địa Trung Hải làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng ở nam giới (RR 0,72; KTC 95%: 0,63 - 0,83) nhưng lại không quan sát thấy mối liên hệ ở nữ giới [6]. Thử nghiệm sàng lọc ung thư PLCO trên 32.415 đối tượng cũng ghi nhận mô hình ăn này giúp giảm nguy cơ u tuyến đại trực tràng – tổn thương tiền ung thư – nổi bật hơn ở nam giới (OR chung 0,79; KTC 95%: 0,68 - 0,92) [6].

Hiểu lầm thường gặp khi áp dụng chế độ Địa Trung Hải

Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần uống thật nhiều rượu vang đỏ hoặc rưới đẫm dầu ô liu vào mọi món ăn là có thể ngừa được ung thư. Đây là cách hiểu chưa chuẩn xác [3, 7]. Các hoạt chất như polyphenol trong dầu ô liu hay resveratrol trong rượu vang mới chỉ được chứng minh tác động can thiệp cơ chế phân tử trong các mô hình in vitro, còn các ứng dụng lâm sàng cần thêm nghiên cứu để xác định liều lượng tối ưu [2].

Bên cạnh đó, việc loại bỏ thành phần rượu cồn ra khỏi thang điểm Địa Trung Hải trong nghiên cứu EPIC không làm thay đổi độ mạnh của hiệu quả bảo vệ đối với ung thư đại trực tràng [3]. Nghiên cứu tại Hà Lan còn ghi nhận yếu tố tình trạng hút thuốc lá làm biến đổi đáng kể mối liên quan giữa việc tuân thủ chế độ ăn và nguy cơ ung thư ở phụ nữ (P-tương tác = 0,015) [5]. Điều này cho thấy dinh dưỡng là một thể thống nhất kết hợp với lối sống, không thể phó mặc sức khỏe cho một vài loại siêu thực phẩm đơn lẻ [3, 4].

Ai nên thận trọng khi thay đổi chế độ dinh dưỡng?

Mặc dù chế độ Địa Trung Hải chú trọng rau quả, ngũ cốc nguyên hạt và chất béo lành mạnh, người có bệnh lý đường ruột đặc thù không nên vội vã áp dụng một cách cứng nhắc [7, 8]. Những bệnh nhân đang trong đợt viêm ruột cấp, hẹp lòng ruột hoặc có triệu chứng tiêu hóa nhạy cảm cần hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng để điều chỉnh lượng chất xơ thô sao cho phù hợp với thể trạng niêm mạc ruột.

Đặc biệt, thành phần rượu vang đỏ trong mô hình ẩm thực này cần được nhìn nhận hết sức cẩn trọng [2]. Người có tiền sử bệnh gan, nghiện rượu hoặc đang sử dụng các loại thuốc điều trị chuyển hóa qua gan tuyệt đối không nên tự ý bổ sung rượu vào khẩu phần ăn hàng ngày [3, 7]. Việc phòng ngừa ung thư bằng chế độ ăn không thể thay thế cho các biện pháp y tế tiêu chuẩn hay lời khuyên của bác sĩ chuyên khoa [2].

Gợi ý áp dụng thực tế phù hợp với bữa ăn hàng ngày

Để tiếp cận những lợi ích bảo vệ niêm mạc ruột từ chế độ ăn Địa Trung Hải, người dân có thể linh hoạt chuyển đổi khẩu phần ăn theo các nguyên tắc thực tế đã được khoa học ghi nhận [7, 8]:

  • Hạn chế tối đa các loại thịt đỏ chế biến sẵn (như xúc xích, thịt nguội, dăm bông) và giảm tần suất ăn thịt đỏ tươi trong tuần [7, 8].
  • Tăng cường các món ăn từ nguồn gốc thực vật: bổ sung đa dạng rau củ, trái cây giàu chất chống oxy hóa và chất xơ trong mỗi bữa ăn [7, 8].
  • Đưa cà chua vào thực đơn thường xuyên để tận dụng nguồn lycopene tự nhiên, chế biến nấu chín nhẹ để cơ thể hấp thu tốt hơn [2].
  • Thay thế mỡ động vật hoặc các loại dầu hydro hóa bằng dầu ô liu nguyên chất khi chế biến món xào nhẹ, làm nước xốt trộn xà lách nhằm cung cấp nguồn polyphenol dồi dào [7, 8].

Chế độ ăn Địa Trung Hải mang lại nhiều tiềm năng trong việc giảm thiểu nguy cơ ung thư đại trực tràng nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nguồn chất xơ tự nhiên, chất chống oxy hóa thực vật và việc giảm bớt thịt đỏ [1, 7, 8]. Tuy vậy, chế độ ăn không phải là thuốc chữa bệnh và hiệu quả bảo vệ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cơ địa, lối sống [2, 4]. Một chế độ dinh dưỡng cân bằng, sinh hoạt lành mạnh kết hợp tầm soát định kỳ luôn là chiến lược toàn diện nhất để bảo vệ sức khỏe hệ tiêu hóa [4, 7].