Nhầm lẫn phổ biến giữa cúc La Mã Đức và cúc La Mã Anh

Trên thị trường thảo mộc hiện nay, hoa cúc La Mã là một trong những thành phần quen thuộc nhất, xuất hiện từ các tách trà thảo mộc xoa dịu thần kinh đến các loại kem bôi làm dịu da. Tuy nhiên, phần lớn người tiêu dùng chỉ nhìn nhãn "cúc La Mã" mà không phân biệt rõ ràng giữa hai loài thông dụng: cúc La Mã Đức và cúc La Mã Anh (thường được gọi là cúc La Mã La Mã). Sự nhầm lẫn này dẫn đến việc nhiều người chọn sai chủng loại cho mục đích chăm sóc sức khỏe của bản thân.

Dù cùng thuộc họ Cúc (Asteraceae) và có chung lịch sử ứng dụng từ thời cổ đại, cúc La Mã Đức và cúc La Mã Anh thực chất là hai loài thực vật học riêng biệt [1], [2]. Cúc La Mã Đức có tên khoa học là Matricaria chamomilla (hay Matricaria recutita), còn cúc La Mã Anh có tên khoa học là Chamaemelum nobile [3], [1]. Chính sự khác biệt về bộ gen và quá trình sinh tổng hợp các hợp chất thứ cấp đã khiến hai loài này mang những thành phần hoạt tính và công dụng hoàn toàn khác nhau [3], [4].

Về hình thái tự nhiên, cúc La Mã Đức là loài cây thân thảo một năm, có cụm hoa đầu màu vàng viền cánh trắng, đặc trưng bởi phần đế hoa rỗng xốp giúp dễ phân biệt với các loài cúc dại khác [5]. Trong khi đó, cúc La Mã Anh thường là cây lâu năm, mọc bò sát đất và có mùi thơm nồng đượm hương táo [1]. Tên gọi "chamomile" trong tiếng Hy Lạp bắt nguồn từ hai từ "Chemos" và "Melos", mang ý nghĩa là "quả táo mặt đất" nhằm miêu tả đặc trưng mùi hương này [1].

Khác biệt cốt lõi: Tinh dầu sesquiterpenoid đối đầu với este

Sự khác biệt lớn nhất quyết định đến giá trị dược lý giữa hai loại hoa cúc này nằm ở cấu trúc hóa học của các phân tử bay hơi bên trong tinh dầu hoa [4]. Các phân tích hóa thực vật chuyên sâu cho thấy hợp chất bay hơi chủ đạo của cúc La Mã Đức là các terpenoid (cụ thể là nhóm sesquiterpenoid), trong khi thành phần bay hơi chính của cúc La Mã Anh lại là các este và axit béo [3], [4].

Cụ thể, tinh dầu hoa cúc La Mã Đức tập trung dày đặc các sesquiterpenoid quý giá bao gồm alpha-bisabolol oxide A, chamazulene, alpha-bisabolol oxide B, alpha-bisabolol tự do và espatulenol [3]. Trong đó, chamazulene là hoạt chất nổi tiếng tạo nên màu xanh lam thẫm rất đặc trưng khi chưng cất tinh dầu cúc Đức [6]. Nhóm hoạt chất bisabolol và các chất chuyển hóa oxy hóa của nó đóng vai trò then chốt tạo nên mùi thơm đặc thù, đồng thời là các chỉ dấu sinh học quy định tính chất kháng viêm, chống loét dạ dày và kháng khuẩn vượt trội của loài thực vật này [6].

Ngược lại hoàn toàn, tinh dầu hoa cúc La Mã Anh lại chứa phần lớn là axit n-hexadecanoic, axit linoleic cùng nhiều este mạch ngắn và trung bình khác [3]. Thay vì mang hàm lượng lớn sesquiterpene kháng viêm mạnh mẽ như cúc Đức, cúc Anh sở hữu các hợp chất sesquiterpene lactone đặc thù khác, mang lại các tính chất sinh học nghiêng về an thần nhẹ, làm ấm và chống co thắt cơ trơn [3], [7], [2].

Các bằng chứng nghiên cứu giải trình tự gen và hóa thực vật

Để làm sáng tỏ sự khác biệt ở cấp độ phân tử, một nghiên cứu công bố năm 2020 đã thực hiện phân tích sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) kết hợp giải trình tự hệ phiên mã so sánh giữa cúc Đức và cúc Anh [3]. Kết quả định lượng chỉ ra rằng hàm lượng alpha-bisabolol oxide A ở cúc La Mã Đức cao gấp 50 lần, alpha-bisabolol oxide B cao gấp 30 lần và nồng độ chamazulene cao gấp 10 lần so với cúc La Mã Anh [3]. Nghiên cứu cũng phát hiện ra một chi tiết thực vật học quan trọng: hàm lượng monoterpenoid và sesquiterpenoid ở hoa dạng đĩa (disk flowers - phần nhụy tròn màu vàng ở giữa) luôn cao gấp từ 2 đến 10 lần so với hoa dạng tia (ray flowers - phần cánh mỏng màu trắng xung quanh) ở cả hai loài [3].

Về mặt di truyền, nghiên cứu trên đã thu thập 106,72 Gb dữ liệu RNA-seq sạch từ mRNA của các mô hoa [3]. Kết quả lắp ráp bộ gen phiên mã của cúc Đức thu được 117.203 unigene với chiều dài trung bình 1056 bp, trong khi cúc Anh gồm 147.616 unigene với chiều dài trung bình 914 bp [3]. Một nghiên cứu khác cùng năm 2020 phân tích mạng lưới đồng biểu hiện gen trên 24 mẫu mô thực vật đã xác nhận mức độ biểu hiện của gen tổng hợp terpene (terpene synthase) ở cúc Đức vượt trội hơn hẳn [4]. Đáng lưu ý, số lượng unigene liên quan đến tương tác giữa cây và mầm bệnh ở cúc Đức cao gấp 10 lần so với cúc Anh, chứng minh cúc Đức sở hữu khả năng tự kháng mầm bệnh sinh học cao hơn [4].

Ngoài ra, một nghiên cứu vào năm 2014 ứng dụng phương pháp sắc ký chất lỏng siêu tới hạn ghép khối phổ (SFC-MS) với cột hạt siêu nhỏ dưới 2 micromet đã hoàn tất việc tách chiết và phân lập các hoạt chất của hai loại cúc chỉ trong 15 phút mà không cần tạo dẫn xuất [7]. Phương pháp phân tích thống kê đa biến đã xác nhận cúc La Mã Đức chứa cis- và trans-tonghaosu, chrysosplenol và apigenin diglucoside [7]. Ngược lại, mẫu cúc La Mã Anh được xác nhận đặc trưng bởi sự hiện diện của apigenin, nobilin, 1,10-epioxynobilin và hydroxyisonobilin [7].

Tiềm năng trị liệu qua các thử nghiệm lâm sàng và dược lý

Nhờ chứa hơn 120 thành phần hóa học có hoạt tính dược lý bao gồm sesquiterpene, flavonoid và coumarin, cúc La Mã đã được đánh giá tiềm năng rộng khắp từ chống oxy hóa, kháng dị ứng, bảo vệ gan đến hỗ trợ hạ huyết áp [1], [2]. Trong số hai loài, cúc La Mã Đức là đối tượng được y học hiện đại nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu nhất và được xem là loài tiêu chuẩn [8].

Về thử nghiệm trên cơ thể người, một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù ba, có kiểm soát bằng giả dược do Modares và các cộng sự tiến hành trên 105 phụ nữ mang thai bị buồn nôn và nôn từ nhẹ đến trung bình [2]. Nhóm can thiệp được cho uống 500 mg bột hoa cúc La Mã Đức khô mỗi ngày trong vòng 1 tuần, so sánh với nhóm uống 500 mg bột rễ gừng và nhóm uống viên nang chứa 500 mg tinh bột làm giả dược [2]. Kết quả nghiên cứu ghi nhận điểm số chỉ số Rhodes (đánh giá tần suất nôn ói và mức độ mệt mỏi thể chất) ở nhóm dùng cúc La Mã Đức giảm rõ rệt và thấp hơn đáng kể so với nhóm dùng giả dược với độ tin cậy thống kê cao (p < 0,05) [2].

Không chỉ có cụm hoa, các bộ phận từng bị loại bỏ như rễ cây cúc La Mã Đức cũng mang hoạt tính sinh học đáng kể. Nghiên cứu năm 2022 về rễ cây cúc Đức đã phân lập được các chất chamomillol, polyyne, 4 coumarin glycoside, hơn 10 este axit phenolic và 5 glyceroglycolipid [5]. Các dịch chiết phân cực từ rễ đạt chỉ số ức chế IC50 từ 13 đến 57 microg/mL trong thử nghiệm dọn gốc tự do DPPH, tương đương với hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết hoa cúc, đồng thời thể hiện khả năng kháng nhẹ hai chủng vi khuẩn là Staphylococcus aureus và Bacillus subtilis [5].

Cúc Đức thiên về kháng viêm, cúc Anh nghiêng về thư giãn

Dựa trên các bằng chứng hóa thực vật rõ rệt, ứng dụng thực tế của hai loài thảo dược này có sự phân hóa chức năng rõ ràng mà người dùng cần nắm vững [3], [7]. Cúc La Mã Đức với hàm lượng chamazulene và alpha-bisabolol vượt trội hàng chục lần là thảo dược hàng đầu cho các tình trạng viêm sưng ngoài da và niêm mạc [3], [6]. Các chế phẩm từ cúc Đức được ứng dụng phổ biến để hỗ trợ làm lành vết thương hở, vết loét, làm dịu bệnh chàm eczema, giảm kích ứng mô, chống viêm đường tiêu hóa và ngăn ngừa tổn thương loét niêm mạc dạ dày [6], [2].

Trái lại, cúc La Mã Anh với nồng độ dồi dào của các este thơm tự nhiên, axit béo cùng hoạt chất nobilin lại tạo nên thế mạnh trong liệu pháp thư giãn tinh thần và xoa dịu hệ thần kinh [3], [7]. Tinh dầu cúc Anh thường được chọn làm dầu massage, xông phòng trị liệu bằng mùi hương (aromatherapy) để giải tỏa căng thẳng thần kinh, hỗ trợ chứng đau dây thần kinh hoặc làm dịu các cơn đau cơ khớp, thấp khớp [2]. Trà pha từ cúc Anh có hương vị thơm ngát như táo tươi, giúp thư giãn cơ thể sau những giờ làm việc mệt mỏi [1].

Tại các nền công nghiệp dược mỹ phẩm toàn cầu với sản lượng hoa cúc khô đạt 7.000 đến 8.000 tấn mỗi năm, cúc La Mã Đức luôn giữ vị trí "ngôi sao trong số các loài dược liệu" [5], [8]. Nếu mục tiêu là giải quyết các ổ viêm, dị ứng da hay hội chứng ruột kích thích, cúc Đức là lựa chọn ưu tiên vượt trội; còn nếu mục tiêu đơn thuần là tìm kiếm hương thơm an định và giải tỏa áp lực tâm lý, cúc Anh là giải pháp nhẹ nhàng, phù hợp [3], [8], [1].

Hiểu lầm thường gặp khi chọn mua và sử dụng thảo dược

Một hiểu lầm hết sức phổ biến là người tiêu dùng cho rằng hai loại cúc này có thể thay thế hoàn toàn cho nhau mà vẫn đem lại hiệu quả tương đương. Nếu bạn đang gặp vấn đề về viêm loét dạ dày hoặc da bị viêm cơ địa nhưng lại mua nhầm cúc La Mã Anh, tác dụng chống viêm sẽ giảm đi rất nhiều do cúc Anh chứa rất ít chamazulene và alpha-bisabolol oxide [3], [6]. Việc đọc kỹ tên khoa học trên nhãn mác sản phẩm (Matricaria chamomilla/recutita cho cúc Đức và Chamaemelum nobile cho cúc Anh) là điều tối cần thiết để chọn đúng mục đích trị liệu [3], [1].

Hiểu lầm thứ hai liên quan đến hình thức sản phẩm: nhiều người nghĩ cánh hoa màu trắng mới là phần tập hợp nhiều dược chất nhất. Thực tế nghiên cứu đã chứng minh các hoạt chất sesquiterpenoid và monoterpenoid quý giá nhất lại tập trung ở nhụy hoa dạng đĩa màu vàng, với hàm lượng cao hơn từ 2 đến 10 lần so với cánh hoa màu trắng [3]. Do đó, những gói trà cúc bị vụn nát, chỉ còn sót lại các cánh hoa trắng mà mất đi phần nhụy vàng trung tâm sẽ có giá trị dược tính thấp hơn đáng kể [3].

Bên cạnh đó, việc nhầm lẫn cúc La Mã chuẩn y tế với các loài cúc dại khác cũng thường xảy ra trên thị trường dược liệu tự do. Chẳng hạn loài cúc dại Matricaria discoidea DC. tuy có cùng chi thực vật và cũng có hoạt tính chống oxy hóa nhưng lại thiếu hụt các đặc tính hóa thực vật đồng nhất như cúc Đức chính thống [5]. Người dùng chỉ nên mua các sản phẩm thảo dược có chứng nhận nguồn gốc xuất xứ rõ ràng từ các nhà thuốc hoặc thương hiệu dược liệu uy tín.

Ai nên thận trọng khi dùng cúc La Mã?

Mặc dù được đánh giá là loại thảo dược dịu nhẹ và có độ an toàn cao trong đời sống, cúc La Mã không phải là sản phẩm hoàn toàn vô hại cho mọi đối tượng. Nhóm người đầu tiên cần đặc biệt thận trọng là phụ nữ trong suốt thời kỳ thai nghén [2]. Dù thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn với liều 500 mg bột hoa cúc Đức khô mỗi ngày trong 1 tuần chứng minh hiệu quả giảm ốm nghén an toàn, việc tự ý dùng thường xuyên hoặc kéo dài lại mang đến rủi ro nghiêm trọng [2].

Một khảo sát dịch tễ học thực hiện tại vùng đông bắc nước Ý trên nhóm phụ nữ mang thai cho thấy có tới 44% thai phụ đã sử dụng cúc La Mã qua đường uống hoặc bôi ngoài da nhằm mục đích giảm âu lo, cải thiện tiêu hóa và ngăn ngừa rạn da [2]. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận có 21,6% những người sử dụng cúc La Mã thường xuyên trong thai kỳ gặp phải tình trạng dọa sảy thai và sinh non, cao hơn đáng kể so với nhóm phụ nữ không sử dụng thảo dược này [2]. Đáng lưu ý hơn, nghiên cứu cũng ghi nhận hai trường hợp trẻ sơ sinh bị dị tật tim sau khi người mẹ sử dụng cúc La Mã liên tục và thường xuyên trong suốt thai kỳ [2].

Ngoài ra, những người có tiền sử dị ứng với các loài thực vật thuộc họ Cúc (Asteraceae) như phấn hoa cúc, cỏ phấn hương hay bồ công anh cần cẩn thận nguy cơ dị ứng chéo khi tiếp xúc với cúc La Mã [1], [2]. Người đang chuẩn bị phẫu thuật hoặc đang dùng các thuốc điều trị chuyển hóa cũng nên tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ để phòng ngừa các tương tác thuốc không mong muốn [1].

Cách dùng đúng liều lượng và thời điểm hiệu quả

Để cúc La Mã phát huy tối đa công dụng mà vẫn đảm bảo an toàn sinh học, người dùng cần tuân thủ các nguyên tắc pha chế và liều lượng đã được kiểm chứng. Khi dùng dưới dạng trà hoa cúc khô nguyên bông, lượng dùng khuyến nghị an toàn dao động khoảng 500 mg đến 2 gam bột hoặc hoa khô cho mỗi lần dùng [2]. Thời điểm sử dụng thích hợp nhất là sau bữa ăn khoảng 30 phút để hỗ trợ tiêu hóa hoặc trước giờ đi ngủ 30 đến 45 phút nhằm giúp tinh thần thư giãn [2].

Khi hãm trà cúc, nhiệt độ nước lý tưởng nên ở mức khoảng 90 đến 95 độ C và bắt buộc phải đậy kín nắp bình hoặc cốc hãm trong suốt 5 đến 10 phút. Việc đậy kín nắp giúp ngăn chặn các hợp chất tinh dầu bay hơi cực kỳ nhạy cảm như chamazulene và các bisabolol oxide bốc hơi mất theo hơi nước [3], [6]. Đối với các trường hợp sử dụng ngoài da để làm dịu ngứa, chàm hoặc kích ứng mô, dịch chiết hoa cúc Đức pha loãng dùng để rửa nhẹ hoặc các loại kem bôi chuẩn hóa chứa chiết xuất bisabolol sẽ đem lại hiệu quả kháng viêm tại chỗ tối ưu [6], [2].

Cả cúc La Mã Đức và cúc La Mã Anh đều là những món quà tuyệt vời của thiên nhiên với giá trị dược liệu đã được khoa học chứng thực. Hiểu đúng sự khác biệt bản chất giữa nhóm chất kháng viêm sesquiterpenoid ở cúc Đức và nhóm este thư giãn ở cúc Anh sẽ giúp bạn đưa ra lựa chọn chăm sóc sức khỏe chính xác, an toàn và đạt hiệu quả cao nhất.