Nhiều người Việt có thói quen hãm bồ kết uống hoặc hun khói hít khi bị ho, ứ đờm lâu ngày. Phương pháp dân gian này được truyền tai như mẹo trị tắc nghẽn đường thở nhanh chóng. Liệu bồ kết thực sự làm tan đờm an toàn hay tiềm ẩn rủi ro cho sức khỏe?
Câu trả lời là bồ kết chứa hoạt chất có khả năng hỗ trợ tống đờm và chống dị ứng đường hô hấp, nhưng việc tự ý dùng đường uống hoặc hít khói tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cao. Tác dụng kích thích bài tiết phế quản của dược liệu này chỉ an toàn ở ngưỡng kiểm soát rất thấp, trong khi saponin tự nhiên có tính độc tế bào mạnh nếu dùng sai cách.
Cơ chế loãng đờm và giảm viêm đường thở
Các thảo dược nhóm long đờm chứa saponin tác động lên hệ hô hấp thông qua các cơ chế đặc thù. Hoạt chất saponin hoạt động như chất hoạt động bề mặt, làm giảm sức căng bề mặt của các chất tiết nhầy trong phế quản, từ đó giúp dịch nhầy dễ tách rời khỏi niêm mạc để tống ra ngoài qua phản xạ ho [1].
Bên cạnh đó, cơ chế tống đờm của nhóm thảo dược này chủ yếu bắt nguồn từ việc kích thích niêm mạc dạ dày, tạo phản xạ kích thích làm tăng tiết dịch ở các tuyến phế quản [1]. Sự tăng tiết dịch lỏng này giúp hòa loãng lớp đờm đặc quánh, hỗ trợ hoạt động của lớp biểu mô có lông chuyển phục hồi khả năng tự làm sạch đường thở [1].
Ở phương diện dị ứng hô hấp, dịch chiết nước bồ kết (Gleditsia sinensis) được chứng minh có khả năng ức chế tiết chất nhầy quá mức [2]. Nghiên cứu cho thấy chiết xuất này ức chế sản sinh MUC5AC – một loại mucin chính gây tắc nghẽn đường thở – thông qua việc chặn con đường truyền tín hiệu STAT3 và STAT6 tại tế bào biểu mô mũi người [2].
Bằng chứng khoa học về dược liệu bồ kết
Nhiều công trình khoa học đã phân lập và đánh giá hoạt tính của chiết xuất bồ kết trên các mô hình hô hấp và miễn dịch.
Một nghiên cứu công bố năm 2023 khảo sát dịch chiết nước bồ kết trên mô hình chuột bị viêm mũi dị ứng gây bởi ovalbumin [2]. Nhóm chuột được cho uống dịch chiết nước bồ kết liên tục trong 1 tuần [2]. Kết quả cho thấy các triệu chứng lâm sàng ở mũi thuyên giảm đáng kể, nồng độ IgE đặc hiệu với ovalbumin, histamine và interleukin-13 (IL-13) trong huyết thanh đều giảm [2].
Đồng thời, dịch chiết bồ kết giúp giảm tích tụ bạch cầu ái toan, tế bào mast, tế bào hình đài và giảm sản sinh MUC5AC trên niêm mạc mũi chuột [2]. Thử nghiệm trên tế bào biểu mô mũi người cũng khẳng định dịch chiết này ức chế tạo MUC5AC dưới kích thích của IL-4 và IL-13 nhờ chặn tín hiệu STAT3/STAT6 [2].
Năm 2009, một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đánh giá 11 saponin phân lập từ quả bồ kết dị dạng (Gleditsia sinensis) trên tế bào mast phúc mạc chuột [3]. Kết quả chỉ ra 4 saponin có khả năng ức chế giải phóng beta-hexosaminidase, ngăn chặn quá trình mất hạt của tế bào dị ứng này [3]. Cơ chế được xác định là do 4 hoạt chất trên làm tăng nồng độ cAMP nội bào của tế bào mast [3]. Cấu trúc phân tử gắn chuỗi đường tại vị trí C-3 và cấu trúc mạch oligosaccharide tại C-28 quyết định trực tiếp hiệu lực chống dị ứng này [3].
Về mặt hóa học thực vật, chiết xuất bồ kết rất phức tạp. Nghiên cứu tổng quan năm 2016 ghi nhận hơn 60 hợp chất bao gồm triterpene, sterol, flavonoid, alkaloid và phenolic được phân lập từ các loài Gleditsia japonica, Gleditsia sinensis, Gleditsia caspica và Gleditsia triacanthos [4]. Trong đó, triterpenoid saponin là thành phần hoạt chất chính [4]. Một hợp chất tiêu biểu là gleditsia saponin C (GS-C) được xác định cấu trúc gồm axit echinocystic, 8 đơn vị đường và 2 nhóm monoterpenyl [5].
Ranh giới mong manh giữa long đờm và độc tính tế bào
Dù saponin có công dụng làm loãng đờm nhờ phản xạ niêm mạc, nhóm chất này lại sở hữu độc tính tế bào cao, vốn là hướng đi đang được tập trung cho nghiên cứu chống ung thư [4].
Tổng quan năm 2016 nhấn mạnh các chiết xuất thô và hoạt chất tinh khiết của bồ kết thể hiện tính độc tế bào ung thư mạnh, ức chế tăng sinh, can thiệp yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi cơ bản (bFGF) và nitric oxide (NO) [4]. Năm 2004, nghiên cứu thử nghiệm 13 saponin phân lập từ bồ kết trên 6 dòng tế bào khối u bằng phương pháp MTT xác nhận các chất này có độc tính tế bào rõ rệt và kích hoạt quá trình tự chết (apoptosis) của tế bào ung thư máu HL-60 [6].
Năm 2003, hoạt chất gleditsioside E từ bồ kết cho thấy độc tính tế bào đáng kể trên các dòng tế bào Bel-7402, BGC-823, HeLa, HL-60 và MCF-7, làm tế bào ngừng chu kỳ tại pha G2/M và kích nổ chu trình tự hủy [7]. Một công bố năm 2017 chứng minh gleditsia saponin C ức chế tăng trưởng khối u trên mô hình chuột ghép khối u và kích thích tế bào ung thư phổi A549 tự chết qua con đường phụ thuộc caspase, tăng tỷ lệ Bax/Bcl-2 và chặn tín hiệu ERK, Akt [8].
Bản chất diệt tế bào của saponin bồ kết giải thích vì sao dùng đường uống thiếu kiểm soát dễ gây tổn thương niêm mạc tiêu hóa, gây nôn mửa hoặc kích ứng nặng nề. Tác dụng kích thích tiết dịch phế quản chỉ an toàn khi lượng saponin đi vào cơ thể nằm ở mức cực nhỏ; vượt qua ngưỡng này, nguy cơ ngộ độc tế bào xuất hiện.
Hiểu lầm thường gặp khi dùng bồ kết chữa ho
Nhiều người tin rằng bồ kết là quả tự nhiên dùng gội đầu nên uống nước sắc hay hít khói vào phổi đều vô hại. Đây là quan niệm sai lầm nghiêm trọng. Khói đốt bồ kết chứa nhiều hạt bụi mịn và hợp chất kích ứng trực tiếp, có thể gây co thắt phế quản cấp tính thay vì làm thông đường thở.
Một lầm tưởng khác là uống nước bồ kết càng đậm đặc thì đờm đặc tan càng nhanh. Cơ chế loãng đờm của saponin phụ thuộc phản xạ qua niêm mạc dạ dày [1]. Uống nồng độ cao gây kích ứng niêm mạc tiêu hóa dữ dội, dẫn tới buồn nôn, tiêu chảy và ngộ độc toàn thân trước khi đạt được hiệu quả phế quản mong muốn.
Ngoài ra, việc nhầm lẫn giữa dữ liệu kháng viêm trong phòng thí nghiệm với việc tự điều trị tại nhà rất phổ biến. Các nghiên cứu kháng viêm mũi của dịch chiết bồ kết thực hiện trên chuột trong 1 tuần với liều lượng chiết xuất chuẩn hóa [2], hoàn toàn khác với việc người bệnh tự đun nấu quả bồ kết thô không rõ hàm lượng hoạt chất.
Ai nên thận trọng?
Người mắc bệnh lý viêm loét dạ dày - tá tràng tuyệt đối không nên tự uống nước sắc bồ kết vì cơ chế kích thích niêm mạc dạ dày sẽ làm vết loét bùng phát đau đớn dữ dội [1].
Bệnh nhân hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) hoặc có cơ địa đường thở tăng phản ứng cần tránh xa khói hun bồ kết. Khói kích ứng niêm mạc phế quản dễ kích hoạt cơn co thắt phế quản cấp tính đe dọa tính mạng.
Phụ nữ mang thai, người già suy kiệt và trẻ nhỏ có hệ thống niêm mạc non nớt hoặc thoái hóa không được sử dụng các bài thuốc bồ kết truyền miệng. Khi cơ thể đang mệt mỏi hoặc có bệnh lý mạn tính, mọi can thiệp thảo dược cần qua ý kiến bác sĩ chuyên khoa.
Áp dụng thực tế an toàn
Người dân không tự ý sắc bồ kết uống hoặc đốt xông khói trực tiếp vào mũi họng để trừ đờm. Nếu muốn áp dụng y học cổ truyền, chỉ sử dụng các chế phẩm bồ kết đã được bào chế, phối ngũ và định lượng bởi thầy thuốc chuyên khoa được cấp phép.
Khi bị ho ứ đờm, ưu tiên uống nhiều nước ấm để hỗ trợ loãng nhầy tự nhiên, kết hợp vỗ rung lồng ngực hoặc sử dụng các biện pháp long đờm chuẩn y khoa đã được kiểm chứng an toàn. Giữ không gian sống sạch bụi, hạn chế khói thuốc lá nhằm bảo vệ lớp biểu mô có lông chuyển phế quản [1].
Lời kết
Bồ kết chứa các hợp chất saponin có khả năng làm giảm sức căng bề mặt chất nhầy và chống dị ứng hô hấp trên mô hình thí nghiệm [1] [2]. Tuy nhiên, dược liệu này mang độc tính tế bào cao và chỉ an toàn ở ngưỡng liều rất thấp [4] [6]. Người bệnh không nên tự ý dùng bồ kết để trị ho đờm tại nhà, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ khi gặp các triệu chứng hô hấp dai dẳng.







