Nhiều gia đình Việt quen dùng rễ phòng phong trong các thang thuốc giải cảm, trị ho hoặc giảm đau nhức xương khớp khi trái gió trở trời. Gần đây, không ít người truyền tai nhau thông tin loại thảo dược này có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư và ức chế khối u.
Thực tế, các nghiên cứu bước đầu xác nhận phòng phong chứa những nhóm hoạt chất tự nhiên như chromone, coumarin và polyacetylene có khả năng gây độc tế bào lạ và chống tăng sinh khối u trong ống nghiệm [1], [2]. Tuy nhiên, tác dụng này mới chỉ dừng ở mức độ thử nghiệm trên dòng tế bào trong phòng thí nghiệm, hoàn toàn chưa có bằng chứng chữa khỏi bệnh ung thư trên cơ thể người [1], [3], [4].
Từ vị thuốc cổ truyền đến đối tượng nghiên cứu hiện đại
Phòng phong có tên khoa học là Saposhnikovia divaricata (hoặc Radix Ledebouriella divaricata), là loài thảo mộc lâu năm thuộc họ Hoa tán (Apiaceae/Umbelliferae), phân bố rộng rãi ở khu vực Đông Bắc Á, nhiều tỉnh của Trung Quốc, vùng Buryatia và Mông Cổ [1], [2]. Trong y văn cổ Thần Nông bản thảo kinh (Shen Nong Ben Cao Jing), dược liệu này được xếp vào nhóm thượng phẩm [1]. Rễ phơi khô của cây từ lâu đã được sử dụng để điều trị cảm lạnh thông thường, ho, đau khớp, viêm khớp dạng thấp, các bệnh lý hệ miễn dịch, hệ thần kinh, hệ hô hấp và chứng lo âu ở trẻ em [1], [2].
Dưới góc nhìn dược lý hiện đại, phòng phong thu hút sự chú ý nhờ chứa bốn nhóm thành phần hóa học chính gồm chromone, coumarin, polyacetylene (polyyne) và các acid ester [1], [2]. Các hợp chất này thể hiện phổ hoạt tính sinh học đa dạng: kháng viêm, giảm đau, chống oxy hóa, kháng virus, điều hòa miễn dịch, chống tăng sinh tế bào và kháng u [1], [2].
Câu hỏi nhiều độc giả đặt ra là các phân tử tự nhiên trong rễ cây này tác động lên tế bào khối u như thế nào. Để trả lời, các nhà khoa học đã tiến hành tách chiết từng hợp chất riêng lẻ và đặt chúng vào các bài kiểm tra khắt khe trên những dòng tế bào ung thư nuôi cấy [1], [3], [4].
Cơ chế gây độc tế bào lạ và kích hoạt "tự sát" tế bào
Trong cơ thể khỏe mạnh, các tế bào già cỗi hoặc hư hại sẽ tự hủy theo một chương trình được lập trình sẵn gọi là apoptosis (chết tế bào theo chương trình) để nhường chỗ cho tế bào mới. Tế bào ung thư nguy hiểm ở chỗ chúng tìm cách né tránh quá trình này để nhân lên vô độ. Các hợp chất phân lập từ phòng phong can thiệp trực tiếp vào đặc điểm sinh tồn đó thông qua hoạt tính gây độc tế bào (cytotoxicity) và chống tăng sinh (antiproliferative) [1], [3], [2].
Nghiên cứu công bố năm 2017 đã làm sáng tỏ cơ chế tiêu diệt tế bào lạ của hoạt chất từ rễ và thân rễ phòng phong thông qua con đường phụ thuộc ty thể (mitochondrial-dependent apoptotic pathway) [3]. Ty thể vốn được xem là "nhà máy năng lượng" duy trì sự sống của tế bào. Khi tiếp xúc với hoạt chất 3'-O-angeloylhamaudol (một dẫn xuất chromone từ phòng phong), màng ty thể của tế bào ung thư bị mất điện thế [3].
Sự sụp đổ điện thế màng ty thể khiến hợp chất cytochrome c bên trong thoát ra ngoài tế bào chất [3]. Ngay lập tức, cytochrome c kích hoạt enzyme caspase-9, phát lệnh khởi động chuỗi phản ứng làm tế bào ung thư tự phân hủy (apoptosis) [3].
Bên cạnh cơ chế kích hoạt chết tế bào trực tiếp, môi trường viêm mạn tính cũng là yếu tố liên quan chặt chẽ đến tổn thương mô. Nghiên cứu năm 2023 trên mô hình đại thực bào RAW264.7 bị kích thích bởi lipopolysaccharide (LPS) cho thấy các hợp chất chromone mới phân lập từ phòng phong giúp ức chế sản sinh nitric oxide (NO) — một chất trung gian gây viêm [5]. Cụ thể, một số hợp chất ngăn chặn quá trình phosphoryl hóa protein ERK và kìm hãm sự hoạt hóa của tín hiệu ERK và JNK thuộc con đường truyền tín hiệu MAPK [5].
Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm nói gì?
Để đánh giá chính xác khả năng ức chế tế bào lạ của coumarin, polyacetylene và chromone trong phòng phong, nhiều nhóm nghiên cứu đã thực hiện phân lập hóa học và thử nghiệm sinh học.
Một nghiên cứu công bố năm 2020 đã khảo sát mẫu rễ phòng phong thu thập tại vùng Buryatia và Mông Cổ [1]. Nhóm nghiên cứu dùng cồn ethanol 40% chiết xuất rễ cây, sau đó phân đoạn liên tiếp bằng petroleum ether, diethyl ether, tert-butyl methyl ether và ethyl acetate, rồi tách qua cột sắc ký silica gel [1]. Kết quả phân lập được 15 hợp chất đơn lẻ, bao gồm: 7 hợp chất coumarin (scopoletin, bergapten, isoimperatorin, marmesin, (+)-decursinol, (-)-praeruptorin B, oxypeucedanin hydrate); 1 hợp chất polyyne (tức polyacetylene) là panaxinol; 3 hợp chất chromone (hamaudol, cimifugin, 5-O-methylvisamminol) và 4 chromone glycoside (prim-O-glucosylcimifugin, sec-O-glucosylhamaudol, 4'-O-beta-D-glucopyranosyl-5-O-methylvisamminol, 4'-O-beta-D-glucopyranosylvisamminol) [1]. Toàn bộ các chất này được đưa vào thử nghiệm MTT tiêu chuẩn để đo độc tính tế bào trong ống nghiệm (in vitro) đối với 5 dòng tế bào ung thư mô hình: MEL-8, U-937, DU-145, MDA-MB-231 và VT-474 [1]. Giới hạn của nghiên cứu là chỉ dừng ở bước sàng lọc in vitro trên dòng tế bào nuôi cấy, chưa thử nghiệm trên động vật sống hay người bệnh [1].
Trước đó, một nghiên cứu năm 2017 tập trung vào dịch chiết methanol (MeOH) từ rễ và thân rễ phòng phong đã tách được 6 dẫn xuất chromone (đánh số 1–6) và 5 dẫn xuất polyacetylene (đánh số 7–11), trong đó hợp chất polyacetylene số 9 và 11 lần đầu tiên được tìm thấy ở loài cây này [3]. Khi đem 6 dẫn xuất chromone thử nghiệm trên dòng tế bào bệnh bạch cầu tiền tủy bào ở người (HL-60), hợp chất số 1 là 3'-O-angeloylhamaudol thể hiện độc tính tế bào mạnh nhất với chỉ số IC50 đạt 4,41 micromol (muM) [3]. Chỉ số IC50 là nồng độ hoạt chất cần thiết để ức chế 50% số lượng tế bào thử nghiệm; con số này càng thấp chứng tỏ hoạt lực càng mạnh. Giới hạn của công trình này là các dẫn xuất polyacetylene dù được phân lập cùng lúc nhưng không được báo cáo số liệu thử nghiệm trên dòng tế bào HL-60 trong tóm tắt nghiên cứu, và thí nghiệm cũng chỉ thực hiện trong ống nghiệm [3].
Không phải hợp chất nào trong phòng phong cũng có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư mạnh mẽ. Nghiên cứu công bố năm 2018 đã phân lập 5 hợp chất chromone glycoside từ phần tan trong nước của dịch chiết ethanol 70% rễ phòng phong, bao gồm 2 chất mới và 3 chất đã biết [4]. Khi thử nghiệm trên 3 dòng tế bào ung thư ở người gồm PC-3 (tuyến tiền liệt), SK-OV-3 (buồng trứng) và H460 (phổi), cả 5 hợp chất này chỉ cho thấy hoạt tính gây độc tế bào yếu, với giá trị IC50 dao động từ 48,54 ± 0,80 đến 94,25 ± 1,45 muM [4]. Điều này chứng minh rằng cấu trúc hóa học khác nhau (như việc gắn thêm gốc đường glycoside làm tan trong nước) sẽ làm thay đổi đáng kể hiệu lực kháng tế bào u [4].
Khoảng cách lớn từ chiếc đĩa thí nghiệm đến chén thuốc sắc
Một điểm cốt lõi mà người tiêu dùng cần hiểu rõ là sự chênh lệch về hàm lượng hoạt chất trong dược liệu thô so với tinh chất dùng trong nghiên cứu.
Theo tiêu chuẩn định lượng bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) công bố năm 2001, rễ phòng phong đạt chuẩn chất lượng cần có sự hiện diện đồng thời của 4 hợp chất chromone chính, nhưng hàm lượng tối thiểu của prim-O-glucosylcimifugin và 4'-O-beta-D-glucosyl-5-O-methylvisamminol chỉ yêu cầu không thấp hơn 0,12% mỗi chất [6].
Trong một nghiên cứu tách chiết năm 2021, hàm lượng ban đầu của ba hoạt chất có tính kháng viêm và kháng u gồm prim-O-glucosylcimifugin, cimifugin và 5-O-methylvisamminoside trong nguyên liệu thô chỉ đạt lần lượt là 0,29%, 0,06% và 0,37% [7]. Để có được chế phẩm phục vụ nghiên cứu, các nhà khoa học phải cho dịch chiết chạy qua nhựa đại phân tử HPD-300 để nâng hàm lượng ba chất này lên 13,07%, 2,83% và 16,91% (hiệu suất thu hồi đạt 76,38%, 78,25% và 76,73%), sau đó tiếp tục tinh chế bằng sắc ký lỏng điều chế để đạt độ tinh khiết trên 95% [7].
Tương tự, nghiên cứu năm 2011 sử dụng kỹ thuật sắc ký ngược dòng hiệu năng cao (HPCCC) với hệ dung môi ethyl acetate/n-butanol/ethanol/nước theo tỷ lệ 1:1:0,1:2 đã phải xử lý 960 mg cao chiết n-butanol của phòng phong mới thu được 72,1 mg prim-O-glucosylcimifugin, 27 mg 4'-O-beta-D-glucosyl-5-O-methylvisamminol, 14,1 mg cimifugin và vỏn vẹn 1,1 mg sec-O-glucosylhamaudol có độ tinh khiết trên 90% [8].
Những con số này cho thấy: để tạo ra tác dụng ức chế tế bào khối u như trong ống nghiệm, tế bào phải tiếp xúc trực tiếp với hoạt chất đã được cô đặc và tinh chế ở độ tinh khiết trên 90–95% [7], [8]. Việc đun sắc vài lát rễ phòng phong khô tại nhà chỉ thu được phần dịch nước chứa hàm lượng hoạt chất rất thấp, thậm chí các chất tan trong nước lại là nhóm có hoạt tính diệt tế bào u yếu (IC50 từ 48,54 đến 94,25 muM) [4], [7], [6].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược hỗ trợ điều trị u bướu
Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng kết quả "gây độc tế bào ung thư trong ống nghiệm" với khả năng "chữa khỏi ung thư trên người". Trong phòng thí nghiệm, hoạt chất từ phòng phong được nhỏ trực tiếp lên lớp tế bào nuôi cấy mỏng mà không gặp rào cản tiêu hóa, chuyển hóa qua gan hay đào thải qua thận [1], [3], [4].
Hiểu lầm thứ hai là cho rằng uống càng nhiều nước sắc phòng phong thì khả năng tiêu u càng mạnh. Như các nghiên cứu năm 2017, 2018 và 2020 đã chỉ ra, các hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh như polyacetylene (panaxinol), coumarin hay một số chromone thường phải chiết xuất bằng dung môi hữu cơ như methanol, ethanol 40–70%, petroleum ether hoặc ethyl acetate [1], [3], [4], [5]. Cách đun nấu bằng nước thông thường khó hòa tan tối đa các hợp chất kỵ nước này, trong khi tự ý tăng liều dược liệu thô có thể gây quá tải cho gan và thận.
Ai nên thận trọng khi sử dụng phòng phong?
Cảnh báo an toàn y tế: Người đang điều trị các bệnh lý ác tính, người có bệnh nền mạn tính hoặc đang sử dụng thuốc tây y tuyệt đối không tự ý dùng phòng phong để thay thế phác đồ điều trị của bác sĩ.
Các bước thận trọng cần tuân thủ bao gồm:
- Bệnh nhân ung thư đang trong quá trình hóa trị, xạ trị hoặc dùng thuốc đích cần hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa ung bướu trước khi dùng bất kỳ thảo dược nào có chứa coumarin, polyacetylene và chromone, nhằm tránh tương tác thuốc làm giảm hiệu quả điều trị hoặc tăng độc tính lên gan, máu.
- Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ (dù y học cổ truyền có ghi nhận dùng cho chứng lo âu ở trẻ em [1]) chỉ được sử dụng khi có sự thăm khám và kê đơn trực tiếp từ thầy thuốc có chuyên môn.
- Người có tiền sử dị ứng với các loài thực vật thuộc họ Hoa tán (Apiaceae/Umbelliferae) cần tránh sử dụng để ngừa phản ứng quá mẫn [1], [2].
Áp dụng thực tế thế nào cho đúng và an toàn?
Trong đời sống hàng ngày, người dân nên nhìn nhận phòng phong đúng với vai trò là một vị thuốc y học cổ truyền hỗ trợ các chứng cảm lạnh, ho, đau nhức xương khớp và hỗ trợ điều hòa miễn dịch, kháng viêm theo chỉ định của thầy thuốc [1], [2].
Khi chọn mua dược liệu, cần tìm đến các cơ sở y học cổ truyền uy tín, đảm bảo đúng loài Saposhnikovia divaricata có kiểm định chất lượng (hàm lượng hoạt chất chuẩn như prim-O-glucosylcimifugin và 4'-O-beta-D-glucosyl-5-O-methylvisamminol đạt từ 0,12% trở lên) để tránh mua phải rễ cây giả mạo hoặc dược liệu đã bị rút hết hoạt chất [6].
Về cách chế biến và sử dụng, phòng phong thường được phối hợp cùng các vị thuốc khác trong thang thuốc sắc hoặc bào chế dưới dạng chiết xuất cồn thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ y học cổ truyền, thay vì tự ý mua về đun uống độc vị kéo dài. Bên cạnh đó, việc duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng, uống đủ nước và vận động hợp lý vẫn là nền tảng an toàn nhất để bảo vệ sức khỏe.
Tóm lại, các hợp chất polyacetylene, coumarin và chromone trong rễ phòng phong thực sự sở hữu tiềm năng gây độc tế bào lạ và kích hoạt quá trình tự hủy của tế bào khối u trong môi trường phòng thí nghiệm [1], [3], [2]. Tuy nhiên, đây mới là cơ sở để ngành dược phát triển thuốc trong tương lai, người bệnh cần giữ thái độ tỉnh táo, tuân thủ phác đồ y khoa chính thống và luôn tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng thảo dược [2].

