Nhiều người có thói quen thay thế hoàn toàn đường kính trắng bằng mật ong trong nấu ăn, pha chế vì tin rằng đây là "thần dược" tự nhiên vừa bổ dưỡng vừa không làm tăng đường huyết. Thậm chí, không ít người mắc đái tháo đường thoải mái thêm mật ong vào thực đơn hàng ngày vì nghĩ thực phẩm này hoàn toàn lành tính.
Tuy nhiên, liệu mật ong có thực sự vượt trội hơn đường sucrose về mặt dinh dưỡng và chỉ số đường huyết, hay bản chất vẫn chỉ là một dạng đường cần kiểm soát chặt chẽ?
Bản chất carbohydrate: Mật ong chứa những gì so với đường trắng?
Đường cát trắng thông thường chứa gần như 100% sucrose nguyên chất. Trong khi đó, mật ong tự nhiên chứa khoảng 80% carbohydrate, phần còn lại chủ yếu là nước cùng một lượng rất nhỏ khoáng chất [1].
Hai thành phần đường chiếm ưu thế tuyệt đối trong mật ong là fructose và glucose [1]. Tỷ lệ giữa fructose và glucose trong mật ong biến thiên đáng kể từ 0,46 đến 1,62, phụ thuộc vào nguồn gốc các loài hoa mà ong lấy mật cũng như điều kiện khí hậu khu vực [1].
Chính tỷ lệ fructose này đóng vai trò mấu chốt trong phản ứng sinh hóa của cơ thể. Fructose là loại đường đơn hấp thu chậm tại ruột non, do đó tạo ra phản ứng tăng đường huyết thấp hơn so với nhiều loại carbohydrate khác [1]. Khi vào máu, gan sẽ bắt giữ khoảng 50% đến 70% lượng fructose này theo cơ chế độc lập hoàn toàn với hormone insulin [1].
Tuy vậy, mật ong vẫn chứa lượng lớn glucose tự do - thành phần có chỉ số đường huyết rất cao [1]. Hơn thế nữa, sự hiện diện của chính glucose lại thúc đẩy ruột non hấp thu fructose nhanh hơn bình thường [1].
Chỉ số đường huyết (GI): Không phải loại mật ong nào cũng giống nhau
Chỉ số đường huyết (GI) phản ánh tốc độ làm tăng nồng độ glucose trong máu của thực phẩm sau khi ăn. Một số loại mật ong như mật ong hoa keo (acacia) hay mật ong yellow box chứa nồng độ fructose tương đối cao, nhờ đó có chỉ số GI thấp hơn [2].
Nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, chéo trên 11 người khỏe mạnh (tuổi từ 27 +- 7, gồm 9 nữ, chỉ số khối cơ thể BMI 24 +- 4 kg/m2) tiến hành so sánh 6 loại mật ong Hy Lạp khác nhau với khẩu phần đối chứng chứa 50g carbohydrate hữu dụng [3]. Máu mao mạch được lấy tại các mốc 0, 15, 30, 45, 60, 90 và 120 phút [3]. Kết quả cho thấy mật ong linh sam (fir) và mật ong hạt dẻ (chestnut) có GI trung bình lần lượt là 59 và 66 (trên thang đo chuẩn glucose) [3]. Ngược lại, mật ong cam quýt (citrus), thạch nam (heather), thông (pine) và xạ hương (thyme) đều thuộc nhóm GI cao, vượt ngưỡng 70 [3].
Phân tích thống kê chỉ ra rằng tỷ lệ sucrose trên oligosaccharide, hàm lượng sucrose và tỷ lệ fructose trên glucose có mối tương quan nghịch với chỉ số đường huyết GI (p < 0,05) [3]. Tỷ lệ sucrose trên oligosaccharide giải thích khoảng 30% sự khác biệt về phản ứng đường huyết giữa các loại mật ong [3]. Ngoài ra, giữa các loại mật ong này không có sự khác biệt về nồng độ glucose lúc đói, insulin sau bữa ăn thử nghiệm hay mức độ thèm ăn chủ quan [3].
Bằng chứng so sánh trực tiếp giữa mật ong và đường sucrose
Khi đặt lên bàn cân đối đầu trực tiếp, mật ong tạo ra một số phản ứng chuyển hóa khác biệt so với đường tinh luyện sucrose.
Nghiên cứu mù đôi, phân bổ ngẫu nhiên năm 2010 thực hiện trên 14 phụ nữ trẻ khỏe mạnh không béo phì (22 +- 3 tuổi) đánh giá bữa sáng chứa mật ong so với bữa sáng chứa sucrose ở mức năng lượng tương đương (~450 kcal) [4]. Kết quả cho thấy việc dùng bữa ăn chứa mật ong đã làm chậm phản ứng tiết hormone ghrelin gây đói (p = 0,037), tăng cường phản ứng tiết hormone peptide YY (PYY, kích thích cảm giác no; p = 0,007) và làm giảm biên độ tăng đường huyết sau ăn so với bữa ăn chứa sucrose (p = 0,039) [4]. Dù vậy, phản ứng insulin sau bữa ăn, mức tiêu hao năng lượng do sinh nhiệt từ thức ăn và lượng thức ăn tiêu thụ tự do ngay sau đó lại không có sự khác biệt giữa hai nhóm (p > 0,10) [4].
Đối với bệnh nhân đái tháo đường týp 1, các thử nghiệm lâm sàng bệnh chứng cắt ngang năm 2011 và 2013 trên đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên (độ tuổi trung bình từ 10,02 đến 10,95 tuổi) đã thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường bằng glucose, sucrose và mật ong [5], [6]. Cả hai nghiên cứu đều kết luận rằng mật ong tạo ra chỉ số đường huyết (GI) và chỉ số gia tăng nồng độ đỉnh (PII) thấp hơn đáng kể so với sucrose ở cả nhóm bệnh nhân lẫn nhóm chứng khỏe mạnh (p < 0,01) [5], [6]. Nghiên cứu năm 2013 ghi nhận lượng C-peptide tăng cao hơn sau khi dùng mật ong so với dùng đường sucrose hay glucose ở cả hai nhóm (p < 0,01), gợi ý mật ong có thể tác động kích thích tế bào beta của tuyến tụy [6].
Giới hạn và rủi ro: Mật ong liều cao gây hại cho đường huyết
Dù có chỉ số GI ở mức trung bình - thấp ở một số giống hoa, mật ong không phải thực phẩm có thể sử dụng thoải mái, đặc biệt với bệnh nhân rối loạn chuyển hóa.
Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên chéo năm 2019 cảnh báo rằng việc tiêu thụ 50g mật ong mỗi ngày đã làm xấu đi khả năng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, thể hiện qua sự suy giảm chỉ số HbA1c rõ rệt so với nhóm chứng [1]. Nghiên cứu không ghi nhận sự thay đổi đáng kể về nồng độ glucose máu lúc đói, mức insulin hay các chỉ dấu về độ nhạy và kháng insulin giữa hai điều kiện thử nghiệm [1].
Trước đó, một nghiên cứu khác của Bahrami và cộng sự cũng ghi nhận tình trạng kiểm soát đường huyết bị suy thoái khi bệnh nhân tiêu thụ lượng mật ong tăng dần từ liều cao 1 g/kg/ngày lên tới 2,5 g/kg/ngày [1]. Ngược lại, một nghiên cứu của Raatz và cộng sự cho thấy dùng mật ong trong 2 tuần không ảnh hưởng đường huyết huyết thanh khi so sánh với sucrose hoặc siro ngô giàu fructose [1]. Sự khác biệt này bắt nguồn từ thiết kế đối chứng: nhóm tác giả năm 2019 so sánh việc nạp thêm mật ong với chế độ không có mật ong, trong khi nghiên cứu của Raatz so sánh mật ong với đường sucrose khác [1].
Hiểu lầm thường gặp: "Mật ong tự nhiên nên không lo tăng cân"
Nhiều người lầm tưởng mật ong chứa ít calo và ăn nhiều không béo. Dù vậy, mật ong thực chất vẫn chiếm tới 80% là đường tự do (fructose, glucose) [1].
Ở mô hình động vật, một nghiên cứu năm 2022 trên chuột đối chứng giữa chế độ ăn bổ sung mật ong (1 hoặc 2 g/kg) với hỗn hợp đường tương đương (fructose, glucose, sucrose) trong vòng 1 tháng ghi nhận: xu hướng dao động đường huyết ở hai nhóm chuột là như nhau [7]. Dù nhóm ăn mật ong tăng ít cân nặng hơn, giảm tế bào gan thoái hóa nước, giảm cholesterol toàn phần và TNF-alpha, đồng thời tăng men chống oxy hóa, thì đây vẫn là thử nghiệm trên chuột và mật ong vẫn giải phóng lượng đường vào máu tương đương hỗn hợp đường tinh chế [7].
Tại góc độ công nghệ thực phẩm, nghiên cứu năm 2024 khảo sát việc dùng mật ong thay thế một phần (50%) hoặc toàn phần (100%) đường sucrose trong làm bánh mì không chứa gluten [8]. Kết quả cho thấy các loại mật ong khác nhau (như mật ong hoa kế, mật ong đa hoa, mật ong dâu rừng, mật ong bạch đàn) tạo ra tính chất cơ học, độ phồng và cấu trúc bánh hoàn toàn khác nhau [8]. Điều này chứng minh rằng kể cả trong ẩm thực, mật ong không thể tự do thay thế tương đương tỉ lệ 1:1 cho đường cát trắng ở mọi công thức mà phụ thuộc sâu sắc vào nguồn gốc hoa [8].
Ai nên thận trọng khi sử dụng mật ong?
- Bệnh nhân đái tháo đường týp 2: Cần hết sức thận trọng. Bằng chứng cho thấy việc dùng 50g mật ong mỗi ngày hoặc sử dụng liều tăng dần (1 - 2,5 g/kg/ngày) sẽ làm suy giảm việc kiểm soát chỉ số HbA1c [1]. Người bệnh tuyệt đối không tự ý dùng mật ong để chữa bệnh mà phải tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị.
- Bệnh nhân đái tháo đường týp 1: Dù mật ong làm tăng đường huyết và đỉnh gia tăng nồng độ (PII) thấp hơn đường sucrose trong các thử nghiệm dung nạp [5], [6], và sử dụng kéo dài 3 tháng cho thấy giảm đường huyết lúc đói cùng HbA1c trong một số đánh giá [2], tổng thể lượng carbohydrate vẫn nạp vào cơ thể và đòi hỏi theo dõi liều insulin cẩn thận.
- Người thừa cân, béo phì: Mặc dù mật ong giúp tăng hormone PYY và làm chậm giải phóng ghrelin tốt hơn bữa ăn sucrose [4], cảm giác thèm ăn sau đó và lượng calo tổng thể không tự giảm đi. Lạm dụng mật ong vẫn gây dư thừa năng lượng.
Áp dụng thực tế: Dùng mật ong đúng cách mỗi ngày
Để tận dụng ưu điểm của mật ong mà không gặp rủi ro cho chuyển hóa:
- Ưu tiên chọn loại hoa có GI thấp: Nên ưu tiên các loại mật ong như mật ong hoa keo (acacia), mật ong hạt dẻ hoặc linh sam do có GI thấp đến trung bình (từ 59 đến 66) nếu muốn kiểm soát biên độ dao động đường huyết [3], [2]. Tránh các loại mật có chỉ số GI cao trên 70 như mật ong cam quýt hay cỏ xạ hương [3].
- Kiểm soát chặt liều lượng: Tuyệt đối không dùng ở mức 50g/ngày như trong nghiên cứu ghi nhận tác hại [1]. Chỉ nên dùng lượng nhỏ (khoảng 1 - 2 thìa cà phê, tương đương 5 - 10g) để tạo hương vị.
- Thay thế một phần, không dùng bổ sung: Khi làm bánh hoặc nấu ăn, chỉ nên thay thế một phần sucrose bằng mật ong (khoảng 50%) để bảo đảm cấu trúc món ăn và hạn chế nạp quá nhiều đường đơn [8]. Tuyệt đối không thêm mật ong vào thực đơn vốn đã đủ lượng đường hàng ngày.
Tóm lại, mật ong chứa một số hợp chất chống oxy hóa tự nhiên và có chỉ số GI thấp hơn đường sucrose tùy thuộc vào nguồn hoa [3], [2]. Dù vậy, với 80% thành phần bản chất vẫn là đường (fructose và glucose), mật ong không phải là "tấm khiên" an toàn tuyệt đối và vẫn làm xấu đi nồng độ HbA1c nếu lạm dụng quá mức [1]. Sử dụng mật ong ở lượng rất nhỏ để thay thế dần đường tinh luyện là lựa chọn khôn ngoan, nhưng kiểm soát tổng lượng đường nạp vào cơ thể mới là chìa khóa then chốt cho sức khỏe.






