Cảm giác ngứa ngáy, vướng víu nơi cổ họng kèm theo vài cái hắt hơi thường là tín hiệu đầu tiên báo hiệu một đợt cảm lạnh sắp bắt đầu. Đứng trước tình huống này, nhiều người thường tự hỏi liệu có giải pháp nào giúp chặn đứng cơn bệnh trước khi các triệu chứng viêm mũi, ho và mệt mỏi trở nên tồi tệ hơn hay không.

Các bằng chứng khoa học cho thấy việc sử dụng viên ngậm chứa kẽm ngay trong vòng 24 giờ đầu kể từ khi xuất hiện triệu chứng có thể giúp rút ngắn thời gian bị cảm lạnh khoảng 3 đến 4 ngày [1], [2]. Mặc dù không thể loại bỏ virus ngay lập tức, can thiệp đúng lúc bằng dạng kẽm phóng thích ion tự do tại họng mang lại sự thuyên giảm đáng kể cho người bệnh [3], [4].

Cơ chế tác động của viên ngậm kẽm tại vùng hầu họng

Sự quan tâm đến viên ngậm kẽm trong việc điều trị cảm lạnh xuất phát từ trường hợp một bé gái 3 tuổi mắc bệnh bạch cầu, các triệu chứng cảm lạnh đã biến mất chỉ sau vài giờ ngậm tan chậm viên kẽm thay vì nuốt chửng như hướng dẫn ban đầu [5]. Quan sát này gợi ý rằng việc tan chậm ở miệng và họng có thể đem lại lợi ích điều trị tại chỗ [5]. Dù vậy, cơ chế hoạt động chính xác của kẽm trong việc điều trị cảm lạnh vẫn chưa được xác định hoàn toàn [1].

Một số giả thuyết nhận định sự cải thiện triệu chứng có thể liên quan đến việc làm giảm nồng độ các cytokine tiền viêm [2]. Hiệu quả của viên ngậm được cho là phụ thuộc vào lượng ion kẽm mang điện tích dương được giải phóng trực tiếp vào các mô hầu họng [6], [4]. Nồng độ kẽm đạt mức cao nhất tại vùng họng, nhưng tác dụng không chỉ giới hạn tại đây mà còn lan tỏa, giúp giảm triệu chứng tại các vùng giải phẫu khác như mũi [4].

Tuy nhiên, dạng bào chế đóng vai trò quyết định. Các hợp chất như axit citric, sorbitol và mannitol có thể liên kết với ion kẽm tự do trong khoang miệng, làm giảm lượng kẽm hoạt tính và dẫn tới sự dao động về hiệu quả lâm sàng giữa các sản phẩm [3]. Ngoài ra, không phải dạng bổ sung kẽm nào cũng đem lại tác dụng; nghiên cứu cho thấy viên ngậm kẽm orotate không làm giảm thời gian hay độ nghiêm trọng của bệnh [6].

Các thử nghiệm lâm sàng ghi nhận kết quả gì?

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược năm 1996 tiến hành trên 100 nhân viên của Cleveland Clinic xuất hiện triệu chứng cảm trong vòng 24 giờ đã chứng minh hiệu quả rõ rệt của kẽm gluconate [7]. Nhóm dùng kẽm (50 người) ngậm 1 viên chứa 13,3 mg kẽm nguyên tố mỗi 2 giờ khi thức, trong khi nhóm đối chứng (50 người) dùng giả dược chứa 5% canxi lactate pentahydrate [7]. Kết quả cho thấy thời gian trung vị để sạch hoàn toàn triệu chứng ở nhóm kẽm là 4,4 ngày, ngắn hơn đáng kể so với 7,6 ngày ở nhóm giả dược [7].

Thử nghiệm này ghi nhận nhóm dùng kẽm giảm đáng kể số ngày bị ho (trung vị 2,0 ngày so với 4,5 ngày), đau đầu (2,0 ngày so với 3,0 ngày), khàn tiếng (2,0 ngày so với 3,0 ngày), nghẹt mũi (4,0 ngày so với 6,0 ngày), chảy nước mũi (4,0 ngày so với 7,0 ngày) và đau họng (1,0 ngày so với 3,0 ngày) [7]. Dù vậy, hai nhóm không ghi nhận khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian hết sốt, đau cơ, ngứa họng hay hắt hơi [7]. Đổi lại, tỷ lệ gặp tác dụng phụ ở nhóm kẽm cao hơn hẳn so với nhóm đối chứng (90% so với 62%) [7].

Năm 1997, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược khác về viên ngậm kẽm gluconate cũng ghi nhận sự sụt giảm thời gian biểu hiện bệnh [1]. Bệnh nhân được cho dùng viên kẽm hoặc giả dược mỗi 2 giờ cho đến khi hết triệu chứng [1]. Kết quả tương tự cho thấy thời gian trung vị để khỏi bệnh hoàn toàn là 4,4 ngày ở nhóm kẽm so với 7,6 ngày ở nhóm giả dược [1].

Bước sang năm 2000, một thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi tại Detroit Medical Center kiểm tra viên ngậm kẽm axetat trên 50 tình nguyện viên mắc cảm trong vòng 24 giờ [2]. Những người tham gia ngậm 1 viên chứa 12,8 mg kẽm axetat hoặc giả dược mỗi 2 đến 3 giờ khi thức [2]. Trong số 48 người hoàn thành nghiên cứu, nhóm dùng kẽm có tổng thời gian mắc bệnh trung bình ngắn hơn rõ rệt (4,5 ngày so với 8,1 ngày ở nhóm giả dược) [2].

Thử nghiệm năm 2000 này cũng cho thấy kẽm axetat giúp rút ngắn thời gian ho (3,1 ngày so với 6,3 ngày), chảy mũi (4,1 ngày so với 5,8 ngày) và làm giảm điểm mức độ nghiêm trọng chung của tất cả các triệu chứng [2]. Mặc dù vậy, sự khác biệt về thay đổi nồng độ chất đối kháng thụ thể interleukin-1 hòa tan trong huyết tương giữa hai nhóm chưa đạt mức ý nghĩa thống kê [2].

Tổng hợp bằng chứng từ các phân tích gộp

Đánh giá tổng quan năm 1998 đối với 7 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng kết luận rằng kẽm gluconate dạng ngậm có hiệu quả điều trị cảm lạnh khi bắt đầu trong vòng 24 đến 48 giờ kể từ lúc khởi phát, giúp giảm cả thời gian và độ nặng của bệnh [3]. Nghiên cứu chỉ ra liều hiệu quả tối thiểu là 13,3 mg kẽm nguyên tố cho mỗi viên ngậm [3].

Một phân tích gộp năm 2017 trên 7 thử nghiệm ngẫu nhiên với 575 người tham gia bị cảm lạnh tự nhiên cho thấy thời gian mắc bệnh trung bình giảm 33% ở các nhóm dùng viên kẽm liều trên 75 mg/ngày [5]. Trong đó, ba thử nghiệm dùng kẽm axetat giúp rút ngắn 40% thời gian cảm lạnh, còn bốn thử nghiệm dùng kẽm gluconate giúp giảm 28% (sự khác biệt giữa hai loại muối này không có ý nghĩa thống kê) [5]. Đáng chú ý, nhóm dùng liều 80-92 mg kẽm/ngày đạt mức giảm 33%, trong khi nhóm dùng liều rất cao 192-207 mg/ngày đạt mức giảm 35%, cho thấy liều trên 100 mg/ngày không mang lại hiệu quả vượt trội hơn [5].

Nghiên cứu phân tích gộp năm 2015 trên 3 thử nghiệm lâm sàng dùng viên ngậm kẽm axetat liều 80-92 mg/ngày phân tích chi tiết tác động lên từng triệu chứng cụ thể [4]. Kết quả cho thấy kẽm axetat rút ngắn thời gian chảy nước mũi 34%, nghẹt mũi 37%, hắt hơi 22%, ngứa họng 33%, đau họng 18%, khàn giọng 43%, ho 46% và đau cơ tới 54% [4]. Trái lại, nghiên cứu không ghi nhận sự khác biệt về thời gian kéo dài của cơn đau đầu và sốt [4].

Mặc dù vậy, tổng quan năm 2014 chỉ ra rằng dữ liệu giữa các nghiên cứu có độ không đồng nhất cao, đòi hỏi sự thận trọng khi diễn giải [8]. Đánh giá này khẳng định kẽm đường uống rút ngắn thời gian cảm ở người khỏe mạnh khi dùng trong 24 giờ đầu, nhưng không tìm thấy mối liên quan với việc giảm độ nghiêm trọng của triệu chứng, đồng thời tỷ lệ gặp tác dụng phụ khi dùng viên ngậm là khá cao [8].

Những hiểu lầm thường gặp về việc dùng kẽm trị cảm

Một hiểu lầm phổ biến là dùng kẽm dưới bất kỳ hình thức nào cũng đem lại tác dụng tương đương nhau. Trên thực tế, nghiên cứu năm 2006 thử nghiệm xịt mũi kẽm gluconate kết hợp viên ngậm kẽm orotate trên 77 tình nguyện viên cho thấy tỷ lệ hết triệu chứng sau 7 ngày không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giả dược (63% so với 53%) [6]. Liệu pháp này không làm giảm thời gian hay mức độ cảm lạnh, ngược lại còn gây đau vùng khứu giác ở một số bệnh nhân [6].

Nhiều người cũng lầm tưởng rằng kẽm dạng xịt mũi sẽ tác động nhanh hơn viên ngậm. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh việc đưa các tác nhân có khả năng gây mất khứu giác vĩnh viễn như kẽm vào sâu trong mũi, nơi tiếp xúc với biểu mô khứu giác, là điều không phù hợp để điều trị một bệnh khó chịu tạm thời như cảm lạnh [6]. Do đó, xịt mũi kẽm gluconate và viên ngậm kẽm orotate hoàn toàn không được khuyến cáo [6].

Ngoài ra, việc tự ý nâng liều kẽm lên mức cực cao để mau khỏi bệnh cũng là quan niệm sai lầm. Phân tích năm 2017 chứng minh việc nâng liều kẽm từ khoảng 80-92 mg/ngày lên mức 192-207 mg/ngày chỉ tạo ra chênh lệch 2 điểm phần trăm không đáng kể về hiệu quả (33% so với 35%) [5]. Không có bằng chứng nào ủng hộ việc dùng kẽm vượt quá 100 mg mỗi ngày để điều trị cảm lạnh [5].

Ai nên thận trọng khi dùng viên ngậm kẽm?

Tác dụng phụ thường gặp nhất của viên ngậm kẽm là cảm giác có vị khó chịu trong miệng và buồn nôn [3]. Các thử nghiệm lâm sàng ghi nhận tỷ lệ tác dụng ngoại ý ở nhóm ngậm kẽm lên tới 90%, cao hơn nhiều so với nhóm dùng giả dược [7]. Vị kim loại khó chịu cùng lịch ngậm dày đặc có thể làm giảm sự tuân thủ điều trị của người bệnh [3].

Những người có hệ tiêu hóa nhạy cảm, dễ buồn nôn hoặc mắc bệnh lý nền cần thận trọng và tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng liều cao. Phụ nữ mang thai hoặc người đang dùng các thuốc điều trị khác không nên tự ý áp dụng phác đồ kẽm liều cao khi chưa có hướng dẫn y tế. Tuyệt đối tránh sử dụng các sản phẩm kẽm đưa trực tiếp vào khoang mũi do nguy cơ gây đau rát và tổn thương khứu giác kéo dài [6].

Về mặt phòng ngừa, mặc dù kẽm đường uống được ghi nhận có liên quan đến việc giảm tỷ lệ mắc cảm lạnh ở trẻ em, việc dùng kẽm để dự phòng cảm lạnh vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ trên người trưởng thành [8]. Người lớn không nên lạm dụng viên kẽm hàng ngày với mục đích ngừa cảm khi chưa có bệnh.

Cách áp dụng viên ngậm kẽm trong thực tế

Để viên ngậm kẽm phát huy tối đa tác dụng, người bệnh cần can thiệp sớm ngay khi các dấu hiệu đầu tiên xuất hiện.

  • Thời điểm bắt đầu: Cần dùng viên ngậm trong vòng 24 đến 48 giờ đầu tiên kể từ lúc chớm ngứa họng hoặc hắt hơi [3], tốt nhất là trong vòng 24 giờ đầu [7], [2], [8].
  • Lựa chọn chế phẩm: Nên chọn dạng muối kẽm gluconate hoặc kẽm axetat [3], [5]. Tránh dùng kẽm orotate hoặc các sản phẩm dạng xịt mũi [6]. Lưu ý kiểm tra thành phần tá dược để tránh các chất gắn kết ion kẽm như axit citric, sorbitol hay mannitol [3].
  • Liều lượng và tần suất: Mỗi viên ngậm cần chứa tối thiểu 13,3 mg kẽm nguyên tố đối với kẽm gluconate [3], hoặc khoảng 12,8 mg đối với kẽm axetat [2]. Ngậm 1 viên mỗi 2 giờ (hoặc 2 đến 3 giờ) trong suốt thời gian thức [3], [7], [2]. Tổng liều kẽm hàng ngày nên duy trì trong khoảng 80 đến 92 mg/ngày, không nên vượt quá 100 mg/ngày [5], [4].
  • Cách dùng: Để viên ngậm tan chậm tự nhiên trong khoang miệng nhằm giải phóng ion kẽm tiếp xúc với vùng hầu họng, không nhai hoặc nuốt chửng ngay [5]. Ngừng sử dụng khi các triệu chứng cảm đã biến mất hoàn toàn [7], [2].

Viên ngậm kẽm gluconate hoặc kẽm axetat là một lựa chọn can thiệp sớm có cơ sở khoa học, giúp rút ngắn từ 3 đến 4 ngày chịu đựng các triệu chứng cảm lạnh khó chịu. Tuy nhiên, hiệu quả này đòi hỏi việc dùng đúng thời điểm trong 24 giờ đầu và chấp nhận một số tác dụng phụ như buồn nôn hay vị khó chịu. Người bệnh cần cân nhắc thể trạng, không dùng quá liều khuyến cáo và luôn tham khảo ý kiến chuyên gia y tế nếu có bệnh lý nền kèm theo.