Nhiều người truyền tai nhau phương pháp thực dưỡng Ohsawa với quan niệm giảm uống nước tối đa để cơ thể "thanh lọc" và lập lại cân bằng âm dương. Không ít bệnh nhân mắc bệnh lý tim mạch, mạch máu cũng áp dụng theo vì tin rằng bớt nước sẽ giảm tải gánh nặng tuần hoàn. Tuy nhiên, việc kiêng khem nước cực đoan lại là con dao hai lưỡi nguy hiểm đối với hệ tuần hoàn.

Người bệnh tim mạch tuyệt đối không nên tự ý cắt giảm nước theo các trào lưu truyền miệng. Thiếu nước gây sụt giảm thể tích huyết tương, dẫn đến hiện tượng cô đặc máu và kích hoạt hình thành cục máu đông gây tắc mạch đe dọa trực tiếp đến tính mạng.

Hiểu lầm phổ biến về việc nhịn uống nước

Nhiều người tin rằng uống ít nước giúp thận và tim được nghỉ ngơi, giảm bớt áp lực làm việc. Niềm tin này khiến không ít bệnh nhân sẵn sàng chịu khát hàng giờ liền, hạn chế cả nước canh lẫn nước lọc mỗi ngày.

Một số trào lưu thực dưỡng khuyên người bệnh chỉ uống nước khi miệng thật khô hoặc giới hạn ở mức vài trăm mililít mỗi ngày. Đây là sai lầm nghiêm trọng về mặt sinh lý học. Khi thiếu nước, các thành phần hữu hình trong máu không giảm đi mà thể tích dịch lỏng tụt xuống, khiến dòng máu đặc quánh lại và tăng nguy cơ tắc nghẽn dòng chảy.

Sự hình thành huyết khối trong lòng động mạch hay tĩnh mạch là mối nguy hại lớn làm gián đoạn tuần hoàn [1]. Cục máu đông này có thể dẫn tới những biến cố tim mạch cấp tính như nhồi máu cơ tim, đột quỵ thiếu máu cục bộ hoặc thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sâu [1].

Cơ chế sinh lý khi cơ thể thiếu nước

Khi lượng nước nạp vào cơ thể không đủ bù đắp lượng bài tiết qua mồ hôi, hô hấp và nước tiểu, thể tích huyết tương suy giảm rõ rệt [2]. Hiện tượng sụt giảm thể tích huyết tương này nhanh chóng gây ra tình trạng cô đặc máu (hemoconcentration) [2].

Sự cô đặc máu làm gia tăng nồng độ thể tích hồng cầu (hematocrit) và nồng độ huyết sắc tố (hemoglobin) trong lòng mạch [2]. Độ nhớt của máu (blood viscosity) vì thế tăng vọt, khiến máu chảy chậm lại và ma sát lớn hơn với thành mạch [2]. Nồng độ hematocrit và hemoglobin tăng cao đã được xác định là yếu tố nguy cơ độc lập cho sự phát triển của bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch vành và đột quỵ [2].

Tình trạng giảm thể tích tuần hoàn và cô đặc máu còn kích hoạt phản ứng điều hòa huyết động liên quan mật thiết đến hệ thần kinh giao cảm [2]. Khi cơ thể đối mặt với căng thẳng thể chất hoặc tinh thần, sự kích hoạt này có thể châm ngòi cho các biến cố tim mạch nguy hại [2].

Ngoài ra, thiếu nước còn thúc đẩy trạng thái tăng đông máu (hypercoagulability) [3], [4]. Máu đặc kết hợp với dòng chảy chậm chạp tạo điều kiện lý tưởng cho tiểu cầu kết tập, kích hoạt dòng thác đông máu và tạo thành các huyết khối nguy hiểm [3], [5].

Bằng chứng y khoa về mất nước và cục máu đông

Mối liên hệ giữa mất nước, cô đặc máu và nguy cơ huyết khối đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu lâm sàng trên thế giới:

Một tổng quan nghiên cứu công bố năm 1995 đã phân tích cơ chế sinh lý của hiện tượng cô đặc máu và nguy cơ tim mạch [2]. Báo cáo khẳng định việc giảm thể tích huyết tương gây cô đặc máu, làm tăng hematocrit và hemoglobin, đồng thời nâng cao độ nhớt của máu [2]. Đây là yếu tố nguy cơ độc lập dẫn tới bệnh tim mạch vành, tăng huyết áp và đột quỵ do thiếu máu cục bộ [2].

Tình trạng thiếu nước gây thuyên tắc huyết khối không chỉ xảy ra ở người cao tuổi hay người bệnh nặng, mà còn xuất hiện ở người trẻ tuổi khỏe mạnh. Một báo cáo ca bệnh năm 2022 ghi nhận trường hợp nam bệnh nhân 30 tuổi bị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) lan rộng ở chi dưới do mất nước sau đợt viêm dạ dày ruột cấp tính [6]. Bệnh nhân nhập viện với triệu chứng tiêu chảy tóe nước 4 ngày, sau đó đau liên tục và sưng bắp chân trái tăng dần [6].

Kết quả siêu âm Doppler mạch máu của bệnh nhân này cho thấy hệ thống tĩnh mạch sâu không thể ép xẹp và có huyết khối tắc nghẽn một phần kéo dài qua nhiều vị trí: tĩnh mạch chậu ngoài, chỗ nối tĩnh mạch hiển - đùi, tĩnh mạch đùi nông, tĩnh mạch khoeo, tĩnh mạch chày trước và tĩnh mạch kèm động mạch chày sau [6]. Bệnh nhân được chẩn đoán DVT cấp tính diện rộng với nhiều cục máu đông, phải điều trị chống đông tại Đơn vị Chăm sóc Tích cực (CCU) rồi dùng thuốc ngoại trú trong 3 tháng [6]. Báo cáo nhấn mạnh mất nước là một yếu tố nguy cơ độc lập gây huyết khối tĩnh mạch [6].

Mất nước và cô đặc máu cũng là nguy cơ hàng đầu gây huyết khối tĩnh mạch não và thuyên tắc phổi. Một báo cáo năm 2016 ghi nhận trường hợp một hướng dẫn viên leo núi nam bị huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi [3]. Nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động cường độ cao liên quan mật thiết đến nhiều yếu tố sinh huyết khối, trong đó có tình trạng mất nước và cô đặc máu [3].

Một nghiên cứu năm 2003 mô tả trường hợp nhà leo núi chinh phục đỉnh Gasherbrum I (8.068 m) bị huyết khối xoang tĩnh mạch màng cứng não [4]. Người này xuất hiện yếu cơ và rối loạn dáng đi, diễn tiến nặng đến mức không thể tự đi lại được [4]. Tác giả kết luận cô đặc máu và mất nước cùng với tình trạng tăng đông là những yếu tố nguy cơ quan trọng của biến chứng nghiêm trọng này [4]. Năm 1986, một nghiên cứu bệnh học về huyết khối não ở vùng cao cũng xác nhận các cục máu đông đều có nguồn gốc tĩnh mạch, trong đó mất nước dẫn đến cô đặc máu đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển bệnh [7].

Tại Bệnh viện số 1 trực thuộc Đại học Trịnh Châu, một nghiên cứu hồi cứu thực hiện từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 1 năm 2017 trên 220 bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não (CVT) đã làm sáng tỏ tiên lượng nguy hiểm của tình trạng thiếu nước [8]. Tình trạng mất nước được xác định bằng tỷ lệ urê máu/creatinin (U/Cr) lớn hơn 80 [8]. Kết quả có 85 bệnh nhân (chiếm 38,64%) rơi vào tình trạng mất nước [8].

Phân tích hồi quy đa biến cho thấy bệnh nhân mất nước có nguy cơ cao hơn hẳn gặp kết cục chức năng kém (thang điểm mRS từ 3 đến 6) tại thời điểm xuất viện với tỷ suất chênh điều chỉnh (adjusted OR) là 3,629 (khoảng tin cậy 95% CI: 1,526 - 8,633; P = 0,004) và tiên lượng dài hạn xấu với adjusted OR là 3,831 (95% CI: 1,597 - 9,190; P = 0,003) [8]. Đáng chú ý, phân tích hồi quy Cox đa biến chứng minh mất nước làm tăng đáng kể nguy cơ tử vong ở bệnh nhân, với tỷ số nguy hại điều chỉnh (adjusted HR) là 2,301 (95% CI: 1,025 - 5,166; P = 0,043) [8].

Huyết khối hình thành do tắc mạch không chỉ dừng lại ở tĩnh mạch hay mạch vành mà còn liên quan đến tổn thương hệ thần kinh trung ương [1]. Rối loạn đông máu và tăng hoạt hóa tiểu cầu xuất hiện phổ biến trong nhiều bệnh thoái hóa thần kinh như Alzheimer, Parkinson, xơ cứng rải rác [1].

Mặc dù các ca bệnh thuyên tắc mạch do mất nước thường được ghi nhận trong điều kiện khắc nghiệt hoặc sau bệnh lý cấp tính [3], [6], bài học rút ra hoàn toàn áp dụng được cho đời sống hàng ngày: việc chủ động cắt giảm nước uống sẽ đẩy cơ thể vào trạng thái thiếu dịch tương tự, trực tiếp tạo ra mối đe dọa huyết khối.

Những ai cần đặc biệt thận trọng với việc hạn chế nước?

Người mắc bệnh tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim cục bộ hoặc từng đặt stent mạch vành là nhóm đối tượng đầu tiên phải tránh xa các phương pháp kiêng nước tùy tiện. Khi dòng máu cô đặc, nguy cơ tái tắc nghẽn trong lòng stent hoặc nhồi máu cơ tim tăng lên rất cao [2], [1].

Người có tiền sử huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới, thuyên tắc phổi hoặc rung nhĩ tuyệt đối không được để cơ thể thiếu nước [3], [6], [1]. Nồng độ máu đặc quánh sẽ phá vỡ sự cân bằng của dòng chảy tuần hoàn và vô hiệu hóa một phần hiệu quả kiểm soát của các thuốc tim mạch thông thường.

Người cao tuổi cần đặc biệt lưu tâm vì trung khu cảm giác khát ở não bộ suy giảm dần theo thời gian, khiến họ ít cảm thấy khát ngay cả khi cơ thể đã cạn kiệt dịch. Nếu lại thực hành nhịn nước theo các phương pháp truyền miệng, lượng huyết tương tụt giảm nhanh chóng, đẩy cao tỷ lệ tử vong và tàn phế do đột quỵ xoang tĩnh mạch hoặc nhồi máu não [8].

Người đang gặp tình trạng tiêu chảy, nôn ói cấp tính, sốt cao hoặc phải làm việc trong môi trường nắng nóng cần được bù nước kịp thời, bởi vì tình trạng mất nước cấp tính có thể gây huyết khối tĩnh mạch sâu diện rộng ngay cả trên người trẻ tuổi không có bệnh nền [6].

Tuy vậy, những bệnh nhân đang bị suy tim giai đoạn nặng có phù, ứ trệ tuần hoàn hoặc bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo cần tuân thủ lượng dịch nghiêm ngặt theo đúng chỉ định của bác sĩ điều trị, không được tự ý uống quá nhiều hoặc nhịn quá mức.

Lời khuyên bổ sung nước an toàn hàng ngày

Để bảo vệ thành mạch và ngăn ngừa hiện tượng cô đặc máu, mỗi người cần duy trì thói quen uống nước đều đặn, chủ động uống từng ngụm nhỏ rải rác trong ngày thay vì đợi đến khi cảm thấy thật khát mới uống một lượng lớn.

Lượng nước lọc cần thiết cho người trưởng thành bình thường dao động khoảng 1,5 đến 2 lít mỗi ngày, điều chỉnh linh hoạt theo mức độ vận động thể lực, cân nặng và nhiệt độ thời tiết. Nước lọc ấm là lựa chọn tối ưu cho hệ tiêu hóa và mạch máu.

Không nên thay thế hoàn toàn nước lọc bằng các loại nước ngọt đóng chai, nước tăng lực hoặc rượu bia. Những đồ uống này có thể làm tăng áp lực thẩm thấu hoặc gây lợi tiểu nhẹ, khiến tình trạng cô đặc máu thêm trầm trọng.

Quan sát màu sắc nước tiểu là cách nhận diện tình trạng dịch của cơ thể đơn giản nhất. Nước tiểu có màu vàng rơm nhạt cho thấy cơ thể đủ nước; nếu nước tiểu sẫm màu, vàng đậm hoặc lượng tiểu quá ít, đó là dấu hiệu cảnh báo cần bổ sung nước ngay lập tức.

Người có bệnh lý tim mạch, suy tim, bệnh thận hoặc đang sử dụng các thuốc lợi tiểu, thuốc hạ áp cần thảo luận trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa tim mạch để xác định định mức nước đưa vào cơ thể phù hợp với tình trạng bệnh lý của bản thân.

Việc hạn chế nước tùy tiện theo các trào lưu ăn uống cực đoan là thói quen nguy hiểm, làm gia tăng nồng độ cô đặc máu và châm ngòi cho các huyết khối tắc mạch chết người [2], [6], [8]. Duy trì lượng nước hợp lý mỗi ngày là biện pháp bảo vệ hệ tuần hoàn đơn giản, khoa học và bền vững nhất.