Trứng là thực phẩm quen thuộc, giàu dinh dưỡng và tiện lợi trong bữa ăn hàng ngày của mọi gia đình Việt. Tuy nhiên, với người mắc bệnh đái tháo đường type 2, quả trứng lại thường mang đến nhiều nỗi lo lắng vì hàm lượng cholesterol dồi dào trong lòng đỏ. Rất nhiều người bệnh tự hỏi liệu việc ăn một quả trứng mỗi sáng có vô tình đẩy nhanh nguy cơ xơ vữa động mạch hay nhồi máu cơ tim hay không.

Câu trả lời từ các bằng chứng y khoa hiện nay cho thấy: việc ăn trứng mỗi ngày có thể tiềm ẩn rủi ro tim mạch đối với người đái tháo đường, nhưng mức độ ảnh hưởng phụ thuộc rất lớn vào số lượng trứng tiêu thụ, cách chế biến và tổng thể chế độ ăn uống hàng ngày. Trong khi người khỏe mạnh có thể an tâm ăn trứng thường xuyên, người bệnh tiểu đường lại cần sự tính toán thận trọng hơn nhiều do sự rối loạn chuyển hóa mỡ máu vốn có của cơ thể.

Cơ chế chuyển hóa: Vì sao người tiểu đường phản ứng khác biệt với cholesterol?

Để hiểu vì sao trứng lại trở thành chủ đề tranh cãi ở người tiểu đường, chúng ta cần nhìn vào cơ chế cân bằng mỡ máu. Một quả trứng gà kích thước lớn thông thường chứa khoảng 185 mg cholesterol [1]. Trước đây, Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ từng đưa ra khuyến cáo người trưởng thành khỏe mạnh nên giới hạn lượng cholesterol nạp vào dưới 300 mg mỗi ngày [1].

Ở người khỏe mạnh, khi lượng cholesterol từ thực phẩm tăng lên, gan sẽ tự động giảm sản xuất cholesterol nội sinh để duy trì trạng thái cân bằng. Tuy nhiên, tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 lại kích thích cơ thể gia tăng tổng hợp cholesterol nội sinh, đồng thời làm giảm khả năng dọn dẹp các hạt lipoprotein giàu cholesterol trong máu [2]. Do đó, việc dung nạp một lượng lớn cholesterol từ thức ăn có thể làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng nội mô cholesterol và làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch trong thời gian dài [2].

Bên cạnh đó, rối loạn lipid máu ở bệnh nhân tiểu đường có đặc điểm là gia tăng các hạt LDL cholesterol nhỏ, đậm đặc vốn rất dễ gây xơ vữa động mạch, đi kèm với sự suy giảm HDL cholesterol bảo vệ và tăng triglyceride [3]. Ở người cao tuổi khỏe mạnh, ăn trứng làm tăng các hạt LDL kích thước lớn ít gây hại hơn cùng với việc tăng HDL [3]. Nhưng ở người đái tháo đường, sự mất cân bằng chuyển hóa sẵn có khiến các tác động bảo vệ này bị suy giảm đáng kể [3].

Các nghiên cứu quan sát dài hạn cảnh báo điều gì?

Các nghiên cứu theo dõi đoàn hệ quy mô lớn trên thế giới đã ghi nhận nhiều mối liên hệ đáng lo ngại giữa việc tiêu thụ nhiều trứng và nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường.

Một phân tích gộp lớn công bố năm 2013 trên 22 đoàn hệ độc lập từ 16 nghiên cứu, theo dõi từ 1.600 đến 90.735 người trong thời gian từ 5,8 đến 20 năm, đã chỉ ra sự khác biệt rất rõ rệt giữa hai nhóm dân số [4]. Ở nhóm dân số chung, việc ăn từ 1 quả trứng trở lên mỗi ngày so với dưới 1 quả mỗi tuần không làm tăng nguy cơ tim mạch nói chung với tỷ số nguy cơ gộp HR là 0,96, bệnh tim thiếu máu cục bộ HR là 0,97 và đột quỵ HR là 0,93 [4]. Tuy nhiên, riêng ở những bệnh nhân mắc đái tháo đường, việc ăn nhiều trứng lại đi kèm tỷ số nguy cơ tim mạch tổng thể lên tới 1,69 [4].

Một tổng quan hệ thống công bố năm 2014 cũng ghi nhận rằng có 4 trong số 6 nghiên cứu đánh giá biến chứng tim mạch và tỷ lệ tử vong ở người tiểu đường tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với lượng trứng tiêu thụ [1]. Đồng thời, 4 trong 8 nghiên cứu tiến cứu đánh giá nguy cơ phát sinh bệnh đái tháo đường cũng ghi nhận mối liên quan đáng chú ý [1].

Đến năm 2020, một phân tích cập nhật từ 3 nghiên cứu đoàn hệ lớn của Hoa Kỳ ghi nhận tới 14.806 biến cố tim mạch cũng đưa ra kết luận tương tự [2]. Kết quả phân tích gộp cập nhật này cho thấy mức tiêu thụ trứng cao hơn có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở những người mắc bệnh đái tháo đường type 2 [2].

Mối liên hệ giữa trứng và biến chứng mạch máu não cũng được ghi nhận qua nghiên cứu đoàn hệ Caerphilly (CAPS) tại Anh theo dõi 1.781 nam giới không mắc bệnh tim mạch ban đầu trong suốt 22,8 năm [5]. Trong phân nhóm bệnh nhân đái tháo đường hoặc rối loạn dung nạp glucose lúc đói từ 6,1 mmol/L trở lên, nguy cơ đột quỵ tăng vọt theo số lượng trứng ăn hàng tuần [5]. Cụ thể, tỷ số nguy cơ đột quỵ hiệu chỉnh ở nhóm ăn từ 5 quả trứng trở lên mỗi tuần lên tới 2,87 so với nhóm chỉ ăn từ 0 đến 1 quả mỗi tuần [5]. Phân tích cắt ngang của nghiên cứu CAPS và khảo sát NDNS cũng ghi nhận việc ăn nhiều trứng có liên quan đáng kể đến việc tăng đường huyết lúc đói ở những người có rối loạn chuyển hóa đường [5].

Bức tranh đối lập từ các thử nghiệm can thiệp ngắn hạn

Trái ngược với những cảnh báo từ các nghiên cứu quan sát dịch tễ học, các thử nghiệm lâm sàng can thiệp có đối chứng lại mang đến một góc nhìn hoàn toàn khác.

Một tổng quan hệ thống năm 2017 rà soát 10 bài báo từ 6 thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên trên bệnh nhân tiểu đường type 2 hoặc người có nguy cơ cao như tiền tiểu đường, kháng insulin và hội chứng chuyển hóa [6]. Nhóm can thiệp được cho ăn từ 6 đến 12 quả trứng mỗi tuần và so sánh với nhóm đối chứng ăn rất ít hoặc không ăn trứng dưới 2 quả mỗi tuần [6]. Kết quả cho thấy việc ăn 6 đến 12 quả trứng mỗi tuần không gây ra bất kỳ tác động tiêu cực nào lên nồng độ cholesterol toàn phần, LDL cholesterol, triglyceride, đường huyết lúc đói, insulin hay chỉ số viêm C-reactive protein [6]. Thậm chí, có 4 trên 6 thử nghiệm còn ghi nhận sự gia tăng nồng độ HDL cholesterol có lợi cho tim mạch ở nhóm ăn trứng [6].

Ngay cả trong nghiên cứu đoàn hệ lớn PREDIMED tại Tây Ban Nha trên 7.216 người có nguy cơ tim mạch cao theo dõi trung bình 5,8 năm, mối nguy hại từ trứng cũng không xuất hiện rõ ràng khi người bệnh tuân thủ chế độ ăn Địa Trung Hải [7]. Trong nghiên cứu này, có khoảng 50% người tham gia mắc đái tháo đường type 2 và có 342 biến cố tim mạch chính được ghi nhận [7]. Kết quả cho thấy tỷ số nguy cơ biến cố tim mạch ở người tiểu đường ăn trên 4 quả trứng mỗi tuần là 1,33 so với người ăn dưới 2 quả mỗi tuần, một mức tăng không có ý nghĩa thống kê [7]. Các nhà nghiên cứu kết luận lượng tiêu thụ trứng từ thấp đến vừa phải không làm tăng nguy cơ tim mạch ở cả người tiểu đường lẫn người không tiểu đường [7].

Tại Hoa Kỳ, nghiên cứu Sức khỏe Tim mạch (CHS) theo dõi 3.898 người cao tuổi trong 11,3 năm ghi nhận 313 ca tiểu đường mới [8]. Sau khi hiệu chỉnh các biến số gây nhiễu, các nhà khoa học không tìm thấy mối liên quan nào giữa lượng trứng hay cholesterol khẩu phần với việc gia tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường [8]. Trứng cũng không gây ra sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng đối với đường huyết hay chỉ số kháng insulin [8].

Vì sao lại có sự mâu thuẫn giữa các bằng chứng khoa học?

Sự bất đồng giữa các nghiên cứu dịch tễ quan sát và các thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính phương pháp luận và hành vi lối sống.

Thứ nhất, các thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên thường diễn ra trong thời gian ngắn và kiểm soát chặt chẽ chế độ ăn uống tổng thể [2]. Khi người bệnh tiểu đường ăn trứng trong một khẩu phần lành mạnh, giàu chất xơ, ít chất béo bão hòa thì trứng không bộc lộ tác hại xấu lên các chỉ số mỡ máu [6]. Ngược lại, các nghiên cứu dịch tễ quan sát phản ánh thói quen ăn uống kéo dài hàng chục năm trong đời sống thực tế [4].

Thứ hai, yếu tố gây nhiễu từ lối sống đóng vai trò rất lớn trong các nghiên cứu quan sát [1]. Phân tích từ nghiên cứu Health ABC cho thấy nguy cơ tim mạch gia tăng quan sát được ở người tiểu đường ăn nhiều trứng thực chất vượt xa mức tác động sinh học thuần túy của cholesterol lên mỡ máu [3]. Điều này gợi ý rằng việc ăn nhiều trứng có thể là một dấu hiệu phản ánh sự thiếu tuân thủ các hướng dẫn dinh dưỡng lành mạnh nói chung [3].

Dữ liệu khảo sát NHANES cho thấy tỷ lệ người tiểu đường tuân thủ khuyến cáo ăn dưới 10% năng lượng từ chất béo bão hòa chỉ đạt 40,2% và tuân thủ mức dưới 300 mg cholesterol chỉ đạt 48,8% [3]. Tại nghiên cứu Health ABC, những người tiểu đường tiêu thụ lượng chất béo toàn phần cao hơn đáng kể và nạp lượng cholesterol khẩu phần lên tới 120 mg/1000 kcal so với 107 mg/1000 kcal ở người không tiểu đường [3]. Trong thực tế, những người ăn nhiều trứng thường đi kèm thói quen ăn nhiều thịt chế biến sẵn, đồ chiên rán, ít vận động và hút thuốc lá [2].

Những đối tượng bệnh nhân nào cần đặc biệt cẩn trọng?

Dựa trên các dữ liệu nghiên cứu hiện có, việc tiêu thụ trứng cần được cá nhân hóa chặt chẽ dựa trên tình trạng sức khỏe thực tế của từng người bệnh.

Người mắc đái tháo đường kèm theo rối loạn dung nạp glucose kiểm soát kém cần hết sức cẩn thận, vì việc ăn từ 5 quả trứng mỗi tuần trở lên trong nhóm này đã được chứng minh làm tăng nguy cơ đột quỵ lên gấp 2,87 lần [5]. Những bệnh nhân có đường huyết lúc đói dao động thất thường hoặc tăng cao mạn tính cũng cần hạn chế lượng trứng do mối liên hệ đồng thuận với mức tăng đường huyết [5].

Người bệnh tiểu đường đã từng xuất hiện các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, hoặc đang có xơ vữa mạch máu tiến triển cũng thuộc nhóm nguy cơ cao [4]. Sự kết hợp giữa suy giảm thanh thải cholesterol nội sinh và nạp thêm lượng lớn cholesterol từ trứng có thể làm nặng thêm tình trạng vữa xơ mạch [2].

Ngoài ra, những người bệnh đang có rối loạn lipid máu hỗn hợp, đặc biệt là tăng cao các hạt LDL cholesterol nhỏ đậm đặc và triglyceride, cần có sự tư vấn trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa [3]. Việc bổ sung cholesterol ngoại sinh trong bối cảnh mỡ máu chưa được kiểm soát ổn định có thể tạo thêm gánh nặng cho hệ tuần hoàn [2].

Hướng dẫn sử dụng trứng an toàn và khoa học trong thực tế

Trứng vẫn là nguồn cung cấp protein sinh học chất lượng cao, giàu vitamin và khoáng chất quý giá mà người bệnh tiểu đường không nhất thiết phải kiêng tuyệt đối. Để tận dụng lợi ích mà không làm tăng nguy cơ biến chứng, người bệnh có thể áp dụng các nguyên tắc sau:

Về số lượng tiêu thụ, các bằng chứng cho thấy mức tiêu thụ thấp đến vừa phải dưới 4 quả trứng mỗi tuần là ngưỡng an toàn cho đa số người có nguy cơ tim mạch [7]. Nếu người bệnh duy trì được một chế độ dinh dưỡng lành mạnh theo chuẩn tim mạch, mức 6 quả mỗi tuần vẫn có thể chấp nhận được mà không làm xấu đi các chỉ số xét nghiệm [6]. Tuy nhiên, việc ăn trứng đều đặn mỗi ngày từ 1 đến 2 quả trở lên không được khuyến khích nếu chưa kiểm soát tốt mỡ máu [4].

Về cách chế biến, phương pháp chế biến quyết định trực tiếp đến mức độ an toàn của món trứng. Người bệnh nên ưu tiên trứng luộc, trứng chần hoặc hấp chín, tránh hoàn toàn việc chiên ngập dầu mỡ động vật hay bơ thực vật. Tránh ăn trứng kèm với các loại thịt chế biến sẵn giàu chất béo bão hòa như thịt xông khói, xúc xích hay pate, bởi sự kết hợp này làm tăng nguy cơ tim mạch nhanh chóng [3].

Về giải pháp kết hợp, người bệnh có thể linh hoạt sử dụng lòng trắng trứng. Phần lớn cholesterol tập trung ở lòng đỏ với khoảng 185 mg mỗi quả, trong khi lòng trắng hoàn toàn không chứa cholesterol nhưng lại rất giàu protein tinh khiết [1]. Do đó, người bệnh có thể ăn 1 quả trứng nguyên vẹn kết hợp thêm 1 đến 2 lòng trắng trứng để đảm bảo no lâu và cung cấp đủ đạm cho cơ bắp. Bên cạnh đó, luôn ăn trứng kèm các loại rau xanh giàu chất xơ hòa tan như cải bó xôi, súp lơ, cà chua để làm chậm hấp thu đường và cholesterol vào máu.

Trứng là một thực phẩm bổ dưỡng nhưng đòi hỏi sự điều độ và hiểu biết đúng đắn từ người bệnh đái tháo đường. Thay vì loại bỏ hoàn toàn hay sử dụng mất kiểm soát mỗi ngày, việc duy trì từ 3 đến 4 quả trứng mỗi tuần, ưu tiên món luộc và ăn cùng nhiều rau xanh là giải pháp cân bằng, an toàn nhất. Người bệnh có bệnh nền tim mạch phức tạp nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để xây dựng thực đơn phù hợp nhất với thể trạng của mình.