Lầm tưởng trăm năm về dòng nước tiểu vô trùng

Nhiều người vẫn tin nước tiểu hoàn toàn vô trùng khi ở trong bàng quang. Quan niệm dân gian cho rằng nước tiểu sạch đến mức có thể dùng rửa vết thương hở lúc khẩn cấp. Y học hiện đại với các kỹ thuật di truyền đã chứng minh điều ngược lại [1].

Nước tiểu người khỏe mạnh không hề vô trùng [1]. Ngay trong bàng quang bình thường, một hệ vi sinh vật tự nhiên phong phú vẫn sinh sống và tương tác mật thiết với cơ thể [2], [3]. Bằng chứng vi sinh học hiện đại bác bỏ quan niệm tồn tại hơn một thế kỷ qua [1], [3].

Sự hiện diện của vi sinh vật trong đường tiết niệu bình thường là trạng thái cộng sinh tự nhiên [4], [5]. Bàng quang duy trì mạng lưới vi khuẩn riêng để giữ trạng thái cân bằng sinh học khỏe mạnh [4], [1].

Vì sao y học từng tin nước tiểu vô trùng?

Quan niệm nước tiểu vô trùng bắt nguồn từ thập niên 1950 thông qua phương pháp cấy nước tiểu tiêu chuẩn [4]. Nhà nghiên cứu Edward Kass đưa ra ngưỡng 10 mũ 5 đơn vị khuẩn lạc trên mỗi mililít (10^5 CFU/ml) để phân biệt tạp nhiễm với viêm bể thận [4].

Ngưỡng này dựa trên phân tích mẫu nước tiểu từ phụ nữ mang thai, bệnh nhân tiểu đường hoặc sa bàng quang [4]. Về sau, y học lâm sàng áp dụng đại trà tiêu chuẩn đó để chẩn đoán viêm bàng quang dù thiếu chứng cứ chặt chẽ [4]. Các mẫu nước tiểu có lượng vi khuẩn dưới ngưỡng này thường bị bỏ qua và dán nhãn là "âm tính" hoặc vô trùng [4].

Trước đây, nhà khoa học Rosalind Maskell từng phát hiện các vi khuẩn phát triển chậm như Corynebacterium, Lactobacillus và Streptococcus trong nước tiểu bệnh nhân có triệu chứng tương tự nhiễm trùng nhưng cấy nước tiểu chuẩn lại âm tính [4]. Các vi khuẩn này đòi hỏi điều kiện nuôi cấy khác biệt [4]. Đáng tiếc, kết luận của bà từng bị bác bỏ trong một thời gian dài [4].

Mãi đến năm 2012, sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới và nuôi cấy định lượng mở rộng mới lật ngược giả định cũ [3]. Các thiết bị hiện đại phát hiện DNA vi khuẩn và vi khuẩn sống mà phương pháp nuôi cấy truyền thống không thể tìm thấy [3], [5].

Hệ vi sinh đường tiết niệu gồm những gì?

Hệ vi sinh đường tiết niệu có số lượng và độ đa dạng thấp hơn so với ruột hay da, nhưng tạo thành hệ sinh thái độc nhất [6]. Quần thể vi sinh vật gồm vi khuẩn, bên cạnh bằng chứng về vi khuẩn cổ, vi nấm và virus [4], [7].

Cả nam giới và phụ nữ đều sở hữu ba chi vi khuẩn cốt lõi với mức độ phong phú thay đổi theo đời người: Lactobacillus, Corynebacterium và Streptococcus [6]. Tuy nhiên, giải phẫu và nội tiết tố tạo ra sự khác biệt rõ rệt về thành phần vi sinh giữa hai giới [6].

Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có hệ vi sinh nước tiểu chiếm ưu thế bởi các loài Lactobacillus [6], [7]. Mẫu nước tiểu của nữ giới cũng xuất hiện đại diện từ ngành Actinobacteria (như Actinomyces, Arthrobacter) và Bacteroidetes (như Bacteroides) [6]. Một nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ cấy thấy khuẩn E. coli ở phụ nữ trưởng thành khỏe mạnh lên tới 91%, trong khi ở nam giới chỉ đạt 25% [6]. Ở nam giới vị thành niên, chi Streptococcus là một trong những nhóm vi khuẩn chiếm ưu thế [6].

Bằng chứng từ các nghiên cứu vi sinh học

Các công trình nghiên cứu hiện đại chứng minh vi khuẩn hiện diện thường trực trong đường tiết niệu người khỏe mạnh [2], [3].

Nghiên cứu tiến cứu thực hiện năm 2016 so sánh hệ vi sinh nước tiểu giữa 10 phụ nữ tiểu không kiểm soát thôi thúc và 10 phụ nữ có chức năng bàng quang bình thường [2]. Nhóm nghiên cứu thu thập nước tiểu qua ống thông niệu đạo nhằm tránh nhiễm khuẩn từ mô bên ngoài [2]. Sau đó, họ khuếch đại gen 16S rRNA của vi khuẩn và giải trình tự bằng công nghệ Illumina MiSeq [2].

Kết quả cho thấy DNA vi khuẩn được tách chiết và giải trình tự thành công từ 95% số mẫu nước tiểu [2]. Nghiên cứu xác nhận sự tồn tại của quần thể đa vi sinh vật trong bàng quang của cả nhóm khỏe mạnh lẫn nhóm bệnh lý [2]. Đồng thời, độ phong phú tương đối của 14 loài vi khuẩn khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm [2]. Khi mức độ nặng của triệu chứng tiểu không kiểm soát thôi thúc tăng lên, độ đa dạng vi sinh vật ở người bệnh giảm xuống [2]. Nghiên cứu này có giới hạn là cỡ mẫu nhỏ với 20 người tham gia [2].

Một đánh giá hệ thống công bố năm 2020 thực hiện tìm kiếm trên PubMed/MEDLINE và SCOPUS giai đoạn 2010 đến 2018 theo chuẩn PRISMA [3]. Từ 303 bài báo được rà soát ban đầu, 36 tài liệu khoa học đủ điều kiện đã được phân tích [3]. Kết quả phân tích trình tự 16S rRNA và nuôi cấy định lượng mở rộng khẳng định có vi khuẩn sống trong nước tiểu mà quy trình chuẩn không phát hiện được, đồng thời chứng minh sự khác biệt hệ vi sinh giữa người khỏe mạnh và người rối loạn đường tiết niệu dưới [3].

Đánh giá năm 2019 tổng hợp dữ liệu từ Medline, PubMed, Cochrane và Embase cũng đi tới kết luận đường tiết niệu không vô trùng [1]. Mỗi người mang một mạng lưới vi sinh phức tạp chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nội sinh và ngoại sinh [1]. Tình trạng mất cân bằng hệ vi sinh xuất hiện ở các rối loạn chức năng như viêm bàng quang kẽ, tiểu gấp không tự chủ và viêm tuyến tiền liệt mạn tính/hội chứng đau vùng chậu mạn [1].

Hiểu lầm thường gặp: Có vi khuẩn nghĩa là mắc bệnh?

Nhiều người nghĩ hễ có vi khuẩn trong nước tiểu là bị nhiễm trùng. Thực tế, trạng thái không có triệu chứng không đồng nghĩa với việc hoàn toàn vắng bóng vi sinh vật [7]. Hệ vi khuẩn bình thường đóng vai trò bảo vệ sức khỏe và duy trì cân bằng nội môi [7].

Bệnh lý chỉ khởi phát khi trạng thái cân bằng sinh học bị phá vỡ, dẫn đến mất cân bằng hệ vi sinh [4], [5]. Thay đổi quần thể vi sinh vật có thể xuất phát từ tuổi tác, chế độ ăn, tập luyện, hút thuốc, dùng thuốc hoặc bệnh tật [5].

Nước tiểu tự nhiên chứa vi khuẩn sống, do đó việc dùng nước tiểu tự thân để uống chữa bệnh hay bôi lên vết thương hở là phản khoa học [3]. Hành động này có nguy cơ đưa vi khuẩn xâm nhập vào các mô bị tổn thương gây nhiễm trùng.

Ai cần đặc biệt thận trọng với nhiễm khuẩn tiết niệu?

Hệ vi sinh đường tiết niệu có thể thay đổi liên quan đến các bệnh lý đường tiết niệu dưới và bệnh ác tính hệ niệu sinh dục [7]. Những nhóm người có nguy cơ cao cần theo dõi y tế chặt chẽ:

Bệnh nhân bàng quang thần kinh đối mặt nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu rất cao, tái phát liên tục suốt đời [8]. Nếu không kiểm soát tốt, tình trạng này có thể dẫn tới suy thận mạn [8].

Phụ nữ có triệu chứng tiểu không tự chủ thôi thúc thường bị suy giảm độ đa dạng của hệ vi sinh nước tiểu [2]. Mất cân bằng hệ vi sinh cũng liên quan đến viêm bàng quang kẽ, hội chứng bàng quang tăng hoạt và viêm tuyến tiền liệt mạn tính [1], [7]. Ở nam giới, mối liên quan giữa hệ vi sinh đường tiết niệu với triệu chứng đường tiểu dưới và bệnh lý tuyến tiền liệt vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, chưa được xác lập đầy đủ [5].

Việc lạm dụng kháng sinh để phòng ngừa hoặc tự điều trị khi chưa có chỉ định làm tăng nguy cơ kháng thuốc, gây khó khăn cho việc chữa trị về sau [8].

Bảo vệ sức khỏe đường tiết niệu đúng cách

Hiểu rõ nước tiểu không vô trùng giúp mỗi người có ý thức chăm sóc hệ tiết niệu khoa học, không lạm dụng kháng sinh bừa bãi [8]:

Không dùng nước tiểu vào mục đích chữa bệnh theo mẹo truyền miệng. Bất kỳ hành vi uống hay bôi nước tiểu lên da đều đối mặt nguy cơ tiếp xúc với vi khuẩn [3].

Duy trì lối sống lành mạnh bằng việc uống đủ nước và ăn uống cân bằng giúp hỗ trợ duy trì trạng thái vi sinh khỏe mạnh, hạn chế các yếu tố gây mất cân bằng như thuốc men hay thuốc lá [5].

Khi xuất hiện các triệu chứng tiểu gấp, tiểu buốt hoặc rối loạn tiểu tiện, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được thăm khám. Bệnh nhân có bệnh nền đường tiết niệu hoặc bàng quang thần kinh cần tuân thủ phác đồ của bác sĩ chuyên khoa, tuyệt đối không tự ý mua kháng sinh điều trị [8].

Y học hiện đại đã chứng minh bàng quang là môi trường sống của một cộng đồng vi sinh vật tự nhiên [2], [1]. Tôn trọng sự cân bằng của hệ vi sinh này và tuân thủ tư vấn y khoa là cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe đường tiết niệu.