Nhiều thai phụ băn khoăn liệu ăn đậu phụ hay uống sữa đậu nành có gây ảnh hưởng tiêu cực đến thai nhi do chứa hoạt chất nội tiết tố thực vật hay không. Nỗi lo về hiện tượng biến đổi giới tính hay rối loạn nội tiết thai kỳ khiến không ít gia đình loại bỏ hoàn toàn món ăn dân dã này ra khỏi thực đơn.
Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học thực tế cho thấy đậu nành vẫn là nguồn thực phẩm an toàn và mang lại nhiều lợi ích cho thai kỳ nếu dùng ở mức độ vừa phải. Mức tiêu thụ tối thiểu khoảng 40 gam thực phẩm từ đậu nành mỗi ngày thậm chí còn giúp giảm thiểu đáng kể nguy cơ tiểu đường thai kỳ mà không gây độc hại cho phôi thai.
Bản chất phytoestrogen và con đường qua nhau thai
Đậu nành cùng các chế phẩm từ đậu nành chứa hàm lượng lớn hợp chất isoflavone, trong đó tiêu biểu là genistein [1]. Đây là nhóm chất phytoestrogen tự nhiên có cấu trúc tương tự hormone sinh dục nữ estrogen, có khả năng kích hoạt thụ thể estrogen beta trong cơ thể [2].
Chính đặc tính này khiến nhiều người lo ngại việc người mẹ tiêu thụ phytoestrogen sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Các thử nghiệm trên động vật mang thai chỉ ra rằng nhau thai đóng vai trò như một bộ đệm hay bể chứa giữ lại phần lớn isoflavone [2]. Quá trình vận chuyển các hợp chất này qua hàng rào nhau thai diễn ra kém hiệu quả, do đó chỉ có một lượng nồng độ rất thấp phytoestrogen lọt qua để đến được thai nhi [2]. Dù nồng độ sang bào thai ở mức thấp, chúng vẫn đủ khả năng kích hoạt thụ thể nội tiết, đặt ra yêu cầu phải kiểm soát liều lượng dung nạp qua chế độ ăn của người mẹ [2].
Bằng chứng phòng ngừa tiểu đường thai kỳ từ các nghiên cứu
Thay vì gây hại, việc tiêu thụ thực phẩm đậu nành trong giai đoạn mang thai đã được chứng minh mang lại lợi ích rõ rệt trong việc phòng ngừa rối loạn chuyển hóa.
Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu công bố năm 2021 được thực hiện tại một bệnh viện phụ sản ở tây nam Trung Quốc đã khảo sát 224 thai phụ trong giai đoạn từ tuần 13 đến tuần 24 [3]. Các đối tượng được chia thành hai nhóm: nhóm ăn không đủ đậu nành (dưới 40 gam/ngày) và nhóm đối chứng (từ 40 gam/ngày trở lên), theo dõi liên tục cho đến khi sinh nở [3]. Kết quả ghi nhận có 36 ca (16,1%) mắc đái tháo đường thai kỳ và 120 ca (53,6%) sinh mổ [3]. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu như tuổi tác, chỉ số khối cơ thể trước mang thai, số lần sinh và lượng tiêu thụ rau củ, hải sản, các nhà khoa học phát hiện việc ăn dưới 40 gam đậu nành mỗi ngày làm tăng nguy cơ mắc đái tháo đường thai kỳ lên 2,116 lần (khoảng tin cậy 95%: 1,228 - 7,907; P = 0,017) [3]. Lượng tiêu thụ dưới ngưỡng này ban đầu có liên quan đến việc tăng nguy cơ sinh mổ nhưng không còn ý nghĩa thống kê sau khi hiệu chỉnh toàn diện [3].
Tiếp tục làm rõ tác động bảo vệ này, một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu khác công bố năm 2022 khảo sát trên 1.495 phụ nữ mang thai từ tuần 6 đến tuần 14 ở vùng tây nam Trung Quốc [4]. Đánh giá khẩu phần ăn qua bảng hỏi lặp lại 3 ngày cho thấy lượng tiêu thụ trung vị của thực phẩm đậu nành là 2,9 gam/ngày [4]. Kết quả xét nghiệm dung nạp glucose ở tuần 24-28 ghi nhận 529 ca mắc tiểu đường thai kỳ; nhóm thai phụ có mức ăn thực phẩm đậu nành cao nhất (phân vị ba) giảm được 27% nguy cơ mắc bệnh so với nhóm hoàn toàn không ăn (RR = 0,73; khoảng tin cậy 95%: 0,54 - 0,99; P = 0,049) [4]. Tương tự, nhóm ăn hạt nhiều nhất cũng giảm 35% nguy cơ tiểu đường thai kỳ (RR = 0,65; P = 0,007) [4].
Các thử nghiệm an toàn về độc tính phôi thai
Để giải tỏa lo ngại về dị tật thai nhi, một loạt nghiên cứu an toàn sinh sản toàn diện về genistein trên chuột cống đã được tiến hành năm 2007 [1]. Khi sàng lọc sơ bộ trong ống nghiệm trên phôi toàn phần chuột cống ở dải nồng độ từ 1 đến 100 microgam/mL, bất thường bắt đầu xuất hiện từ nồng độ từ 10 microgam/mL trở lên và gây dị tật toàn bộ phôi ở mức 100 microgam/mL [1].
Tuy nhiên, trong hai thử nghiệm sinh sản trực tiếp trên cơ thể sống bằng đường uống và đường trộn thức ăn, không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào về tác dụng gây quái thai [1]. Khi chuột mẹ được cho uống genistein liều 0, 20, 150 và 1.000 mg/kg/ngày từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 20 của thai kỳ, chỉ ở liều cực cao 1.000 mg/kg/ngày mới xuất hiện độc tính nhẹ ở chuột mẹ (giảm thể trọng, giảm ăn) kèm theo tác động tiêu cực đến chuột con như tăng tỷ lệ tử vong sơ sinh và suy giảm thể trạng chung [1]. Liều lượng này vượt xa mức con người có thể hấp thụ từ bữa ăn tự nhiên.
Ngoài ra, một nghiên cứu thực nghiệm năm 2025 trên mô hình chuột mang thai chịu tác động bởi cồn cho thấy, chế độ ăn bổ sung đậu nành bảo vệ sự hình thành nhau thai và cấu trúc não bộ [5]. Đậu nành giúp bảo tồn trọng lượng não, cấu trúc tế bào vùng hồi hải mã CA1 và phục hồi khả năng nhận thức ở chuột con nhờ kích hoạt các phân tử mạng lưới thụ thể hormone GnRH và Notch [5].
Lợi ích sức khỏe tim mạch và chuyển hóa tổng thể
Đậu nành từ lâu đã được tiêu thụ ở mức cao tại nhiều cộng đồng dân cư châu Á qua nhiều thế kỷ mà không gây ra tác hại rõ rệt nào [1]. Ngược lại, việc dung nạp đậu nành đem đến nhiều lợi ích phòng ngừa bệnh tật [1]. Hoạt chất flavonoid trong đậu nành mang đặc tính chống oxy hóa thông qua việc tăng cường hoạt tính của các enzyme như catalase, superoxide dismutase và glutathione peroxidase [6].
Quá trình tiêu hóa đậu nành trong ruột còn giải phóng các peptide hoạt tính sinh học như conglycinin, đóng vai trò ngăn ngừa tăng huyết áp, béo phì và xơ vữa [6]. Tổng hợp từ 38 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng cho thấy việc dùng trung bình 47 gam protein đậu nành mỗi ngày giúp giảm 9,3% cholesterol toàn phần, giảm 12,9% cholesterol xấu LDL và giảm 10,5% triglyceride [6]. Việc thay thế 25 gam đạm thông thường bằng 25 gam đạm đậu nành cũng giúp hạ 4% nồng độ LDL [6].
Hiểu lầm thường gặp về phytoestrogen và sinh sản
Một hiểu lầm rất phổ biến là phytoestrogen gây vô sinh và rối loạn kinh nguyệt nghiêm trọng ở phụ nữ. Một đánh giá tổng quan năm 2022 gồm 11 nghiên cứu can thiệp, 11 nghiên cứu quan sát và 1 phân tích gộp đã kết luận rằng đậu nành và isoflavone chỉ tạo ra tác động rất yếu, không có ý nghĩa lâm sàng lên độ dài chu kỳ kinh hay tình trạng nội tiết tố [7]. Thậm chí, việc tiêu thụ đậu nành không làm gián đoạn khả năng sinh sản của phụ nữ khỏe mạnh mà còn tạo ra tác động tích cực ở những phụ nữ gặp vấn đề hiếm muộn hoặc đang điều trị hỗ trợ sinh sản [7].
Nỗi e ngại khác bắt nguồn từ các nghiên cứu đối với trẻ sơ sinh bú sữa công thức từ đậu nành. Các dữ liệu cho thấy sữa công thức chứa đạm đậu nành cung cấp hàm lượng isoflavone rất cao, từ 32 đến 47 mg/L, so với chỉ 5,6 microgam/L trong sữa mẹ tự nhiên, dẫn đến nồng độ isoflavone tuần hoàn cao gấp 13.000 đến 22.000 lần mức estradiol huyết tương [2]. Trẻ sơ sinh dùng loại sữa này có thể chịu mức phơi nhiễm tương đương 5 viên thuốc tránh thai mỗi ngày dựa theo thể trọng [2]. Nghiên cứu hồi cứu trên 952 phụ nữ cho thấy nhóm từng uống sữa đậu nành thời thơ ấu (248 người) có thời gian hành kinh dài hơn và khó chịu nhiều hơn nhóm dùng sữa khác (563 người) [8]. Nghiên cứu Sister Study trên hơn 19.000 phụ nữ cũng liên kết sữa công thức đậu nành thời thơ ấu với nguy cơ u xơ tử cung [8]. Tuy nhiên, các nhà khoa học nhấn mạnh mô hình dinh dưỡng của người lớn châu Á ăn đậu nành suốt đời khác hoàn toàn với việc cho trẻ sơ sinh dùng sữa công thức đậu nành đậm đặc ở phương Tây [8]. Thai phụ ăn thực phẩm đậu nành tự nhiên không gặp phải tình trạng quá tải này do nhau thai đã cản lại phần lớn hoạt chất [2].
Ai nên thận trọng khi dùng đậu nành?
Dù thực phẩm đậu nành thông thường an toàn, một số đối tượng thai phụ cần lưu ý thận trọng hoặc tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị:
- Thai phụ có nguy cơ co giật hoặc tiền sử bệnh lý thần kinh: Isoflavone liều cao có thể làm tăng các cơn co giật trên mô hình động vật mắc bệnh lý thần kinh [2]. Các đối tượng có bệnh nền dễ co giật như chấn thương não, hội chứng Down hay tự kỷ không nên tự ý dùng viên uống bổ sung isoflavone hoặc nuôi ăn qua ống sonde bằng chế phẩm đậu nành đậm đặc [2].
- Người có vấn đề về tuyến giáp hoặc nguy cơ ung thư bàng quang: Khẩu phần đậu nành hàm lượng quá mức đã từng được ghi nhận có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ rối loạn tuyến giáp và ung thư bàng quang trong một số báo cáo dịch tễ [6].
- Thai phụ đang mắc các bệnh nền nội tiết hoặc đang dùng thuốc đặc trị cần trao đổi kỹ với bác sĩ sản khoa và dinh dưỡng để phân bổ khẩu phần phù hợp, tuyệt đối không tự ý dùng các loại viên nang chiết xuất isoflavone liều cao dạng thực phẩm chức năng [2].
Cách áp dụng thực phẩm đậu nành an toàn cho thai kỳ
Để tối ưu hóa lợi ích và hạn chế mọi rủi ro tiềm ẩn, thai phụ có thể đưa đậu nành vào bữa ăn hàng ngày theo các hướng dẫn sau:
- Ngưỡng sử dụng khuyến nghị: Duy trì mức tiêu thụ từ 40 gam thực phẩm từ đậu nành mỗi ngày (tương đương khoảng nửa bìa đậu phụ nhỏ hoặc một cốc sữa đậu nành tươi) để hỗ trợ giảm thiểu nguy cơ đái tháo đường thai kỳ [3]. Thai phụ ăn ít hơn 40 gam/ngày có nguy cơ mắc bệnh cao gấp đôi [3].
- Lựa chọn nguồn thực phẩm truyền thống: Ưu tiên sử dụng các món ăn tự nhiên như đậu phụ, đậu nành tươi luộc (edamame), sữa đậu nành không đường hoặc đạm đậu nành tự nhiên thay vì các sản phẩm chiết xuất công nghiệp đậm đặc.
- Thời điểm tiêu thụ: Nên bổ sung đậu nành đều đặn ngay từ giai đoạn 3 tháng đầu (tuần 6-14) và 3 tháng giữa thai kỳ (tuần 13-24) nhằm điều hòa dung nạp đường huyết sớm [5, 6].
- Kết hợp đa dạng: Nên kết hợp đậu nành cùng các loại hạt dinh dưỡng, rau xanh và nguồn đạm phong phú khác để đạt hiệu quả chuyển hóa tối ưu nhất [5, 6].
Tóm lại, đậu nành là nguồn thực phẩm an toàn và có lợi cho sức khỏe của người mẹ trong suốt giai đoạn thai kỳ nếu tiêu thụ ở mức độ chừng mực. Bổ sung từ 40 gam thực phẩm đậu nành mỗi ngày cùng chế độ dinh dưỡng cân bằng sẽ giúp kiểm soát đường huyết hiệu quả mà không gây ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.









