Nhiều phụ nữ mang thai tìm đến các chế độ ăn thuần tự nhiên để thanh lọc cơ thể và mong muốn con sinh ra khỏe mạnh. Trong số đó, thực dưỡng số 7 – chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt chỉ gồm 100% gạo lứt kết hợp muối mè và nước trắng – đang được một số hội nhóm truyền tai nhau như phương pháp dưỡng thai lý tưởng. Tuy nhiên, việc cắt bỏ hoàn toàn các nhóm thực phẩm thiết yếu trong giai đoạn nhạy cảm này liệu có an toàn cho sự hình thành của thai nhi?
Câu trả lời dứt khoát từ góc độ y khoa là không. Phụ nữ mang thai tuyệt đối không nên áp dụng thực dưỡng số 7 vì nguy cơ thiếu hụt vi chất nghiêm trọng, đặc biệt là axit folic (vitamin B9), đe dọa trực tiếp quá trình đóng ống thần kinh và sự sống của phôi thai [1], [2].
Nhu cầu vi chất then chốt trong thai kỳ
Quá trình phát triển phôi thai và bào thai có đặc điểm cốt lõi là sự phân chia tế bào diễn ra với tốc độ rất nhanh [1]. Axit folic giữ vai trò trung tâm trong quá trình này nhờ tham gia trực tiếp vào việc tổng hợp axit nucleic (vật liệu tạo nên DNA) [1]. Trong thai kỳ, nhu cầu folate của cơ thể tăng cao do sự gia tăng mạnh mẽ của các phản ứng chuyển giao một carbon phục vụ tổng hợp DNA và các phản ứng methyl hóa [3].
Nếu nồng độ folate trong khẩu phần ăn không đủ, quá trình nhân đôi tế bào và phát triển mô ở cả thai nhi lẫn nhau thai sẽ bị ức chế nghiêm trọng [1]. Bình thường, nhau thai hoạt động như một bơm sinh học, lấy axit folic từ hệ tuần hoàn của người mẹ và cô đặc lại đưa vào hệ tuần hoàn thai nhi [2]. Cơ chế vận chuyển tích cực này giúp nồng độ folate ở bào thai đạt mức cao gấp 2 đến 4 lần so với nồng độ trong máu mẹ [2]. Khi người mẹ ăn kiêng quá mức dẫn đến thiếu hụt folate, nguồn cung cấp cốt lõi này bị cắt đứt, khiến bào thai chịu tổn thương nặng nề hơn cả cơ thể mẹ [2].
Nguy cơ thiếu folate và dị tật ống thần kinh
Sự hình thành hệ thần kinh là một trong những giai đoạn sớm và tinh tế nhất của sự sống con người. Ống thần kinh phôi thai bắt đầu và hoàn tất quá trình khép lại trong một khoảng thời gian rất hẹp, chỉ từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 28 sau khi thụ tinh [2]. Các tế bào mào thần kinh và ống thần kinh phôi thai có đặc tính phân chia cực kỳ nhanh [2]. Khi thiếu hụt folate trong cửa sổ thời gian vàng này, các tế bào không thể phân chia bình thường, dẫn tới hiện tượng tế bào khổng lồ (megaloblastosis - tế bào có kích thước lớn nhưng nhân ngừng trưởng thành) và kích hoạt quá trình chết tế bào hàng loạt [2].
Hậu quả của sự chết tế bào này khiến ống thần kinh không thể đóng kín, trực tiếp gây ra các dị tật ống thần kinh nặng nề như thai vô sọ hoặc nứt đốt sống [1], [2]. Bổ sung axit folic trong giai đoạn quanh thời điểm thụ thai đã được chứng minh giúp làm giảm cả ca mắc mới lần đầu lẫn nguy cơ tái phát dị tật ống thần kinh ở những thai kỳ tiếp theo [1]. Không những vậy, tình trạng thiếu hụt folate trong khẩu phần còn liên quan chặt chẽ đến sảy thai tự nhiên liên tiếp, sinh non, trẻ nhẹ cân khi sinh và thai chậm phát triển trong tử cung [1], [4].
Về mặt chuyển hóa, thiếu hụt folate làm tăng nồng độ homocysteine trong máu mẹ [1]. Nồng độ chất này tăng cao tạo ra nguy cơ xuất hiện các biến chứng sản khoa nguy hiểm bao gồm tiền sản giật và bong non bánh nhau, làm suy giảm nghiêm trọng tuổi thai và cân nặng thai nhi [1].
Bằng chứng khoa học về tác hại của chế độ ăn thiếu hụt
Các thử nghiệm can thiệp tước đoạt dưỡng chất trực tiếp trên phụ nữ mang thai là phi đạo đức, do đó giới khoa học sử dụng các mô hình động vật có kiểm soát để làm rõ cơ chế phá hủy hệ thần kinh của tình trạng thiếu folate [2].
Một nghiên cứu thực nghiệm tổng hợp năm 2022 do Craciunescu và cộng sự thực hiện đã khảo sát tác động của việc thiếu folate đối với tế bào tiền thân não bộ thai nhi [2]. Chuột mang thai được cho ăn chế độ chuẩn chứa 2 mg/kg axit folic cho đến ngày thứ 11 của thai kỳ, sau đó các nhà khoa học loại bỏ hoàn toàn axit folic khỏi khẩu phần của nhóm can thiệp [2]. Kết quả phân tích mô học cho thấy, phôi thai của những chuột mẹ bị thiếu folate có số lượng tế bào tiền thân thần kinh đang phân chia ít hơn rõ rệt tại hồi hải mã, nhân đuôi, bèo sẫm, thể vân, vỏ não mới và vùng não thất của vách ngăn [2]. Đồng thời, số lượng tế bào chết theo chương trình (apoptosis) tăng vọt tại vùng vách ngăn và hồi hải mã so với nhóm đối chứng [2].
Thiếu dinh dưỡng toàn diện cũng làm suy giảm khả năng hấp thu vi chất qua đường ruột và nhau thai. Một nghiên cứu công bố năm 2021 trên chuột mang thai chia thành ba nhóm: khẩu phần chuẩn (CON), khẩu phần thiếu dinh dưỡng (UN - giảm 30% năng lượng ăn vào) và khẩu phần nhiều chất béo (HF - 60% năng lượng từ chất béo) [5]. Đánh giá vào ngày thai thứ 18,5 cho thấy nhóm chuột mẹ thiếu dinh dưỡng (UN) có nồng độ folate trong huyết tương thấp hơn hẳn nhóm đối chứng [5]. Nghiên cứu chỉ ra rằng suy dinh dưỡng ở người mẹ làm biến đổi quần thể vi sinh vật đường ruột (chẳng hạn như các chủng vi khuẩn lactobacilli) và hệ thống protein vận chuyển vi chất như Pcft, Rfc1, Fralpha hay Smit2, từ đó cản trở việc vận chuyển folate và dưỡng chất thiết yếu qua nhau thai đến thai nhi [5].
Tình trạng thiếu hụt folate phối hợp cùng các chất cho nhóm methyl khác như methionine và choline cũng được chứng minh gây ảnh hưởng cơ quan nội tạng. Nghiên cứu năm 2009 cho chuột thí nghiệm ăn chế độ thiếu hụt các chất này ghi nhận sự biến đổi nhẹ tại tim ở chuột con giống cái và thận nhỏ hơn tỷ lệ thông thường ở chuột con giống đực [6]. Nồng độ insulin trong tuyến tụy của bào thai thiếu folate tăng cao hơn nhóm đối chứng, kèm theo xu hướng giải phóng insulin tăng sau khi nạp glucose đường uống, cho thấy những thay đổi bệnh lý ban đầu tại trục insulin của thai nhi [6].
Bên cạnh đó, việc cung cấp đủ folate trong giai đoạn quanh thụ thai mang lại lợi ích lâu dài cho chức năng thần kinh. Nghiên cứu năm 2018 trên 28 chuột cống mang thai được chia vào các nhóm ăn chế độ chuẩn, chế độ thiếu folate hoặc chế độ bổ sung folate từ 7 ngày trước giao phối cho đến khi sinh [3]. Kết quả thử nghiệm né vách đá và lực bám chi trước ở chuột con cho thấy việc bổ sung axit folic cho mẹ giúp cải thiện sự phát triển chức năng cảm giác - vận động giai đoạn sớm ở con cái [3]. Bổ sung folate làm gia tăng tiềm năng methyl hóa, tăng cường mức độ methyl hóa DNA toàn thể (5-mC) cũng như sự biểu hiện và hoạt tính của enzyme DNA methyltransferase trong mô não của chuột con [3].
Rủi ro kép từ việc kiêng khem hoàn toàn đạm động vật
Thực dưỡng số 7 loại bỏ hoàn toàn thịt, cá, trứng, sữa và chỉ dung nạp ngũ cốc nguyên hạt. Sự cực đoan này không chỉ gây thiếu hụt folate mà còn dẫn tới tình trạng thiếu hụt trầm trọng cobalamin (vitamin B12) [4].
Khác với folate có nguồn gốc thực vật, cobalamin không thể tìm thấy trong ngũ cốc mà chủ yếu đến từ đạm động vật [4]. Chế độ ăn kiêng thiếu protein động vật của người mẹ là nguyên nhân phổ biến nhất gây thiếu hụt cobalamin ở trẻ sơ sinh [4]. Đáng lo ngại hơn, các bà mẹ mang thai thiếu hụt cobalamin thường không biểu hiện triệu chứng thiếu máu ra bên ngoài, nhưng con sinh ra lại phải đối mặt với các tổn thương thần kinh vĩnh viễn và tình trạng chậm phát triển thể chất nghiêm trọng hơn cả biến chứng thiếu máu hồng cầu to [4].
Cả hai tình trạng thiếu folate hoặc thiếu cobalamin đều dẫn đến sự gia tăng nồng độ tổng homocysteine trong máu, khiến thai nhi rơi vào nguy cơ suy dinh dưỡng bào thai, sinh non hoặc tử vong phôi thai [4]. Nồng độ methylmalonic acid (MMA) trong huyết tương tăng cao phản ánh tình trạng thiếu hụt chức năng của cobalamin, một chỉ số luôn cần được kiểm tra khi trẻ có dấu hiệu chậm phát triển hoặc rối loạn thần kinh không rõ nguyên nhân [4].
Cân bằng liều lượng: Thiếu hụt hay dư thừa đều nguy hiểm
Mặc dù folate là dưỡng chất sống còn, việc tự ý bổ sung quá liều cũng tiềm ẩn những rủi ro sinh học cần lưu tâm. Lời khuyến nghị y khoa chuẩn mực trên toàn cầu là phụ nữ mang thai cần nạp đủ 400 đến 800 microgam folate mỗi ngày để đảm bảo mô của mẹ, nhau thai và bào thai tăng trưởng khỏe mạnh [3], [2]. Bổ sung axit folic ở mức từ 400 microgam/ngày trở lên trước và trong giai đoạn đầu thai kỳ giúp giảm thiểu dị tật ống thần kinh, giảm nguy cơ sinh nhẹ cân, chậm phát triển ngôn ngữ hay tự kỷ ở trẻ [3].
Tuy nhiên, vượt ngưỡng an toàn quá nhiều không đồng nghĩa với việc mang lại thêm lợi ích. Một nghiên cứu năm 2011 trên chuột mang thai có kiểu gen Mthfr bình thường (+/+) hoặc đột biến (+/-) được cho ăn chế độ bổ sung axit folic liều cao gấp 20 lần mức khuyến nghị [7]. Đánh giá vào ngày thai 10,5 và 14,5 cho thấy nhóm dùng liều cao gấp 20 lần có nồng độ folate trong huyết tương tăng gấp 10 lần, đi kèm hiện tượng chậm phát triển phôi thai, phôi bị khuyết tật và thành tâm thất ở tim phôi thai mỏng hơn bình thường [7].
Tương tự, nghiên cứu năm 2016 khảo sát ảnh hưởng của chế độ ăn bổ sung axit folic liều cao gấp 5 lần mức khuyến nghị trên chuột mang gen đột biến chuyển hóa Mthfd1S [8]. Sự kết hợp giữa chế độ bổ sung này và sự thiếu hụt enzyme của mẹ dẫn đến tỷ lệ dị tật phôi thai ngày thứ 10,5 tăng cao và gây tổn thương cấu trúc bánh nhau [8]. Lớp mê cung của bánh nhau không thể hình thành bình thường, làm tổn hại sự kết nối tuần hoàn giữa mẹ và con, từ đó ngăn cản quá trình vận chuyển 5-methyltetrahydrofolate cùng các dưỡng chất qua phôi thai [8]. Điều này nhấn mạnh rằng dinh dưỡng thai kỳ đòi hỏi sự cân bằng tuyệt đối, dựa trên liều lượng chuẩn xác chứ không thể chạy theo các trào lưu cực đoan.
Những ai cần đặc biệt thận trọng với khẩu phần folate?
Mọi phụ nữ có kế hoạch mang thai hoặc đang mang thai đều phải duy trì lượng vi chất đầy đủ, nhưng những trường hợp sau đây cần được giám sát y khoa chặt chẽ:
- Phụ nữ có tiền sử mang thai bị dị tật ống thần kinh hoặc có tiền sử sảy thai liên tiếp, sinh non [1].
- Phụ nữ mang các đột biến gen chuyển hóa folate phổ biến, chẳng hạn như đa hình gen MTHFR hoặc biến thể MTHFD1 R653Q, làm giảm hiệu quả chuyển hóa sinh học của cơ thể [1], [4], [8].
- Phụ nữ ăn chay trường hoặc từng áp dụng các phương pháp ăn kiêng thiếu hụt đạm động vật trước khi mang thai, có nguy cơ cạn kiệt nguồn dự trữ vitamin B12 [4].
- Những thai phụ có biểu hiện rối loạn tiêu hóa mạn tính hoặc kém hấp thu đường ruột, làm gián đoạn các thụ thể vận chuyển folate [5].
Lời khuyên áp dụng dinh dưỡng thai kỳ an toàn
Để bảo vệ cấu trúc thần kinh và sự phát triển trọn vẹn của con, thai phụ không được tự ý thực hiện chế độ ăn kiêng hà khắc như thực dưỡng số 7. Thay vào đó, cần tuân thủ các nguyên tắc khoa học sau:
- Bổ sung đúng thời điểm: Việc bổ sung axit folic cần thực hiện từ trước khi thụ thai (tối thiểu 1 tháng trước khi có kế hoạch mang bầu) và duy trì liên tục qua 3 tháng đầu thai kỳ, tốt nhất là kéo dài suốt thai kỳ để dự phòng biến chứng sản khoa [1], [3].
- Đúng liều lượng chuẩn: Mức bổ sung tiêu chuẩn được khuyến nghị là 400 đến 800 microgam axit folic mỗi ngày thông qua viên uống bổ sung hoặc thực phẩm tăng cường vi chất [3], [2].
- Chế độ ăn đa dạng: Thay vì chỉ ăn một loại ngũ cốc, khẩu phần ăn hàng ngày cần phối hợp đa dạng các nguồn cung cấp vi chất tự nhiên bao gồm rau xanh lá đậm, các loại đậu, hoa quả, kết hợp nguồn đạm động vật như thịt, cá, trứng nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ cả axit folic lẫn cobalamin (B12) [4].
Dinh dưỡng thai kỳ là nền tảng trực tiếp quyết định sự hình thành hình thái và trí tuệ của trẻ sau này. Việc áp dụng các chế độ ăn kiêng thiếu căn cứ khoa học như thực dưỡng số 7 có thể cướp đi cơ hội phát triển lành lặn của con ngay từ những tuần đầu tiên. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa sản hoặc chuyên gia dinh dưỡng để xây dựng khẩu phần khoa học, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho cả mẹ và bé.








