Canh miso làm từ đậu nành lên men là món ăn quen thuộc trong bữa cơm của nhiều gia đình hiện đại. Món ăn này chứa hàm lượng isoflavone đáng kể, khiến không ít phụ huynh lo ngại con em bước vào tuổi dậy thì gặp rối loạn nội tiết tố hoặc dậy thì sớm.

Hiện tại, chưa có thử nghiệm lâm sàng nào trên người chứng minh ăn miso với lượng thông thường gây rối loạn sinh dục ở trẻ vị thành niên. Bằng chứng về nguy cơ phá vỡ nội tiết tố phần lớn đến từ các nghiên cứu trên động vật gặm nhấm dùng liều cao, trong khi các đánh giá y khoa ở người ghi nhận đậu nành an toàn khi dùng trong chế độ ăn thông thường [1].

Cơ chế tác động của phytoestrogen trong đậu nành

Miso chứa các hợp chất isoflavone aglycone gồm genistein, daidzein và glycitin, cùng dạng glycoside như daidzin, glycitin và genistin [2]. Đây là các phytoestrogen có cấu trúc tương tự estrogen nội sinh, có khả năng gắn vào thụ thể estrogen và hoạt động như chất chủ vận estrogen trong cơ thể [2].

Ở người, daidzein khi vào ruột có thể được hệ vi sinh chuyển hóa thành equol, một chất chuyển hóa có hoạt tính estrogen mạnh hơn cả genistein và các isoflavone khác [3]. Khi đi vào cơ thể, các hợp chất này có thể tác động đến trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục hoặc tuyến giáp trong các giai đoạn phát triển nhạy cảm [1, 7].

Bằng chứng nghiên cứu trên động vật: Tác động ở giống đực

Nhiều thực nghiệm trên động vật cho thấy isoflavone liều cao có thể làm biến đổi trục nội tiết sinh dục ở con non giống đực. Một nghiên cứu công bố năm 2022 thực hiện trên 42 chuột cống Wistar đực 3 tuần tuổi, cho phơi nhiễm isoflavone đậu nành ở liều 0,5, 5 hoặc 50 mg/kg từ ngày thứ 23 đến ngày 60 sau sinh [4]. Kết quả cho thấy nồng độ testosterone và estradiol huyết thanh giảm, nồng độ LH tăng ở liều 5 và 50 mg/kg, FSH tăng ở liều 0,5 mg/kg, dẫn đến tình trạng suy sinh dục do tăng gonadotropin và làm chậm tuổi dậy thì ở tất cả các nhóm can thiệp [4]. Nghiên cứu này cũng ghi nhận biến đổi biểu hiện mRNA của các gen kiểm soát trục hạ đồi - tuyến yên - tinh hoàn như Esr1, Gnrhr, Lhb, Ar, Lhcgr và Star [4].

Một thử nghiệm khác vào năm 2019 khảo sát 108 chuột cống Wistar đực tiền dậy thì (30 ngày tuổi) được chia thành 3 nhóm: đối chứng, liều thấp và liều cao hỗn hợp genistein và daidzein trong 6 tuần [5]. Kết quả phân tích huyết thanh và mô tinh hoàn cho thấy liều thấp làm tăng estrogen ở tinh hoàn và trì hoãn thời điểm bắt đầu dậy thì [5]. Ở nhóm dùng liều cao, môi trường estrogen duy trì kéo dài trong tinh hoàn đã ngăn cản tuyến yên tiết hormone và ức chế sản sinh testosterone, triệt tiêu sự khởi phát dậy thì [5].

Trước đó, một công trình năm 2005 trên chuột nhắt C57BL/6 cho chuột mẹ ăn khẩu phần bổ sung genistein liều 0, 5 hoặc 300 mg/kg suốt thai kỳ và giai đoạn cho con bú [6]. Chuột đực con phơi nhiễm genistein có khoảng cách hậu môn - sinh dục ngắn hơn và khối lượng cơ thể giảm, trong đó nhóm liều thấp chịu ảnh hưởng rõ rệt hơn nhóm liều cao [6]. Mặc dù thời điểm tách bao quy đầu, nồng độ testosterone và mật độ tinh trùng ở tuổi trưởng thành không đổi, hành vi hung hăng của chuột đực nhóm liều thấp lại suy giảm [6].

Ảnh hưởng lên trục tuyến giáp cũng được ghi nhận trong nghiên cứu năm 2023 trên 32 chuột cống Wistar đực 23 ngày tuổi [7]. Phơi nhiễm isoflavone đậu nành liều 0,5, 5 hoặc 50 mg/kg từ lúc cai sữa đến 60 ngày tuổi làm tăng nồng độ TSH huyết thanh nhưng không làm đổi T3 và T4, biểu hiện tình trạng suy giáp dưới lâm sàng kèm biến đổi biểu hiện gen Mct-8, Thra1, Thrb2, Nis và Pds tại hạ đồi, tuyến yên, tuyến giáp, tim và gan [7].

Bằng chứng trên giống cái và giai đoạn phôi thai

Nghiên cứu năm 2016 trên chuột cống Wistar cho thấy chế độ ăn chứa đậu nành khiến chuột mẹ tăng ít cân hơn trong thai kỳ, nhưng chuột con (cả đực và cái) lại tăng cân nặng nhanh hơn trước cai sữa [8]. Đậu nành kích thích chuột con ăn nhiều hơn và làm thời điểm dậy thì ở chuột cái đến sớm hơn, điều này cũng xuất hiện khi chuột cái bắt đầu ăn đậu nành từ lúc cai sữa [8]. Ngoài ra, chuột đực tiếp xúc đồng thời với bisphenol A (BPA) và chế độ ăn đậu nành bị giảm khối lượng tinh hoàn [8].

Nghiên cứu năm 2015 trên chuột cống cũng chỉ ra chế độ ăn đậu nành gây ra các đặc điểm của hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) và rối loạn chuyển hóa liên quan, trong khi genistein và các chất chuyển hóa qua được nhau thai và bài tiết vào sữa mẹ [3]. Ở mô hình phôi gà năm 2019, đưa trực tiếp 6,25, 62,5 hoặc 625 microgam isoflavone aglycone vào lòng đỏ phôi giai đoạn sớm gây ngừng phát triển somite, dị tật ống thần kinh và làm ngắn chiều dài phôi [2].

Giới hạn của bằng chứng và dữ liệu lâm sàng ở người

Mặc dù các mô hình động vật đưa ra cảnh báo về khả năng gây rối loạn nội tiết, các dữ liệu này không thể ngoại suy trực tiếp thành nguy cơ ở người. Thử nghiệm trên động vật thường sử dụng isoflavone tinh chế hoặc chiết xuất liều rất cao, phơi nhiễm liên tục qua đường tiêm hoặc thức ăn chuyên biệt [1, 2, 4].

Đánh giá tổng quan y khoa năm 2023 dựa trên hướng dẫn PRISMA xem xét các tài liệu sản phụ khoa cho thấy các nghiên cứu ở người không ủng hộ mối liên hệ giữa việc uống đậu nành với dậy thì sớm hay ung thư vú [1]. Sự hiện diện của isoflavone qua nhau thai và sữa mẹ không gây dị tật bẩm sinh hay biến chứng chu sinh [1]. Ở người trưởng thành có suy giáp dưới lâm sàng, đậu nành chỉ làm tăng nhẹ chỉ số TSH [1]. Đáng chú ý, các thực phẩm đậu nành lên men như miso còn mang lại tác động thuận lợi đối với hệ vi sinh đường ruột [1].

Những hiểu lầm thường gặp về miso đậu nành

Nhiều người lầm tưởng rằng ăn bất kỳ thực phẩm đậu nành nào cũng dẫn đến nữ hóa tuyến vú ở bé trai hoặc gây dậy thì sớm ở bé gái. Nghiên cứu tổng quan xác nhận đậu nành không thúc đẩy dậy thì sớm trên người [1].

Một hiểu lầm khác là đánh đồng món ăn truyền thống với các viên uống bổ sung. Đánh giá y tế chỉ ra phần lớn nghiên cứu can thiệp ở người sử dụng thực phẩm bổ sung isoflavone tinh chế, đạm đậu nành phân lập hoặc đạm tái kết cấu, vốn có nồng độ hoạt chất khác xa với việc tiêu thụ thực phẩm thông thường như nước đậu nành hay canh miso [1]. Do đó, kết quả từ các chế phẩm cô đặc không phản ánh tác động của một bát canh trong bữa ăn.

Nhóm đối tượng cần thận trọng

Dựa trên các dữ liệu về nội tiết, một số trường hợp cần lưu ý lượng dùng đậu nành:

  • Người có tiền sử suy giáp dưới lâm sàng: Đậu nành có thể làm tăng nhẹ nồng độ TSH huyết thanh [6, 7]. Trẻ vị thành niên đang điều trị bệnh lý tuyến giáp cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa nội tiết.
  • Trẻ có rối loạn phát triển giới tính hoặc bệnh lý trục hạ đồi - tuyến yên: Do isoflavone có ái lực với thụ thể estrogen và có thể can thiệp biểu hiện gen kiểm soát trục sinh dục ở liều cao [1, 2].
  • Người có cơ địa dị ứng đậu nành hoặc rối loạn tiêu hóa nặng.

Cách sử dụng miso an toàn và hợp lý

Để nhận giá trị dinh dưỡng mà không lo ngại quá liều phytoestrogen, phụ huynh có thể áp dụng các bước thực tế sau:

  • Lượng dùng phù hợp: Cho trẻ dùng 1 bát canh miso (khoảng 15-20g tương miso) mỗi ngày hoặc cách ngày, không lạm dụng ăn liên tục nhiều bữa trong ngày.
  • Cách chế biến: Đun sôi nước dùng và rau củ trước, sau đó tắt bếp rồi mới hòa tan tương miso để giữ nguyên hoạt tính vi sinh có lợi cho đường ruột [1]. Tránh đun miso sôi sùng sục quá lâu trên lửa lớn.
  • Đa dạng hóa nguồn đạm: Kết hợp miso với các loại thực phẩm khác như rong biển, đậu hũ non, nấm, rau xanh và đạm động vật để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng, tránh để bữa ăn phụ thuộc hoàn toàn vào chế phẩm đậu nành.

Miso là thực phẩm lên men giàu dinh dưỡng và an toàn cho trẻ dậy thì khi dùng với lượng vừa phải trong chế độ ăn đa dạng. Phụ huynh không nên vì lo ngại thiếu căn cứ mà cắt bỏ thực phẩm này, song cũng không nên lạm dụng các chế phẩm isoflavone cô đặc mà chưa có chỉ định y khoa.