Nhiều người truyền tai nhau lời khuyên đặt sẵn một cốc nước ấm ở đầu giường để uống ngay khi mở mắt thức dậy nhằm tránh tai biến mạch máu não. Thói quen này phổ biến đến mức không ít người tin rằng chỉ một cốc nước buổi sáng là tấm khiên đủ sức ngăn chặn cơn đột quỵ.

Thực tế, uống nước ngay khi thức dậy giúp bù dịch và làm giảm độ quánh của máu tạm thời sau một đêm dài, nhưng không thể tự mình ngăn chặn hoàn toàn đột quỵ [1]. Đột quỵ buổi sáng là kết quả của hàng loạt biến đổi sinh học phức tạp chứ không chỉ do thiếu nước [2]. Hiểu đúng vai trò của việc bù nước sẽ giúp bạn bảo vệ mạch máu hiệu quả mà không bỏ quên các biện pháp y tế quan trọng khác.

Vì sao đột quỵ hay xảy ra vào buổi sáng?

Các biến cố tim mạch cấp tính như nhồi máu cơ tim, đột tử do tim và đột quỵ thiếu máu não đều có tính chu kỳ theo nhịp sinh học 24 giờ, xảy ra thường xuyên hơn vào buổi sáng [3]. Thống kê cũng ghi nhận tỷ lệ khởi phát đột quỵ cao nhất diễn ra trong lúc ngủ và những giờ đầu buổi sáng [4].

Sự gia tăng này gắn liền với nhịp sinh học của nhiều yếu tố thúc đẩy hình thành cục máu đông [4]. Vào buổi sáng, trương lực co mạch vành, độ kết tập tiểu cầu, hoạt tính đông máu và độ nhớt của máu (độ đặc quánh của máu) đều cao hơn các thời điểm khác trong ngày [3]. Cùng lúc đó, khả năng tự làm tan cục máu đông của cơ thể lại bị ức chế mạnh hơn [3].

Cụ thể, hệ thống đông máu và tiêu sợi huyết (cơ chế tự phân hủy cục máu đông) biến đổi rõ rệt theo hướng dễ tạo huyết khối vào buổi sáng [2]. Ngay khi thức dậy và chuyển sang tư thế đứng, độ kết tập tiểu cầu và độ nhớt máu tăng lên, có thể do sự gia tăng hormone catecholamine cùng số lượng hồng cầu và tiểu cầu trong những giờ đầu ngày [2]. Hoạt chất giúp làm tan cục máu đông (tPA) xuống mức thấp nhất vào buổi sáng, trong khi chất ức chế nó lại tăng lên, tạo ra trạng thái kìm hãm quá trình tiêu sợi huyết [2].

Bên cạnh độ đặc của máu, huyết áp tăng cao vào buổi sáng cũng tương quan trực tiếp với đỉnh điểm khởi phát đột quỵ [2]. Hiện tượng này xảy ra ở người không giảm huyết áp ban đêm, người có huyết áp ban đêm cao hơn ban ngày, hoặc người gặp tình trạng huyết áp vọt lên đột ngột bắt đầu từ 2 giờ trước khi thức dậy [2]. Ngược lại, những người bị tụt huyết áp quá mức vào ban đêm cũng có nguy cơ bị đột quỵ trong lúc ngủ do giảm tưới máu não [2].

Độ nhớt máu và tình trạng thiếu nước liên quan gì đến đột quỵ?

Độ nhớt máu cao làm dòng máu chảy chậm lại, gây ứ trệ tuần hoàn và dẫn đến các biến cố huyết khối bệnh lý gây đột quỵ thiếu máu não [5]. Sự thay đổi độ nhớt cũng tác động trực tiếp lên lực ma sát của dòng máu vào thành mạch [6].

Một nghiên cứu công bố năm 2023 đã đo độ nhớt máu ngay tại giường bệnh trước khi truyền dịch cho 112 bệnh nhân nghi ngờ đột quỵ nhập viện trong vòng 24 giờ từ lúc khởi phát [6]. Phép đo thực hiện nhanh trong khoảng 2,4 ± 1,3 phút sau khi lấy máu ở ba tần số dao động 1, 5 và 10 rad/giây [6]. Kết quả ở tần số 10 rad/giây cho thấy nhóm đột quỵ thiếu máu não có độ nhớt máu cao hơn hẳn nhóm có triệu chứng giả đột quỵ, lần lượt là 24,2 ± 4,9 cP so với 17,8 ± 6,5 cP [6]. Ở tần số 1 rad/giây, con số này là 134,2 ± 46,3 cP so với 102,4 ± 47,2 cP; ở tần số 5 rad/giây là 39,2 ± 11,5 cP so với 30,4 ± 12,4 cP [6].

Sự cô đặc máu do thiếu nước thể hiện đặc biệt rõ ở thể đột quỵ tắc mạch máu nhỏ (SAO) [5]. Nghiên cứu công bố năm 2016 đã đo độ nhớt máu của 92 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp (gồm 25 ca thuyên tắc từ tim, 42 ca xơ vữa mạch lớn và 25 ca tắc mạch nhỏ) bốn lần trong thời gian nằm viện và so sánh với 100 người khỏe mạnh [5]. Ngay ngày nhập viện, nhóm tắc mạch nhỏ có độ nhớt máu cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng khỏe mạnh, đạt mức 5,37 ± 1,11 mPa·s so với 4,66 ± 0,72 mPa·s [5]. Sau 2 tuần điều trị, nhóm tắc mạch nhỏ giảm độ nhớt máu mạnh nhất, chứng tỏ máu của họ bị cô đặc nhiều nhất vào thời điểm khởi phát bệnh do tình trạng mất nước [5].

Một nghiên cứu cắt ngang khác công bố năm 2017 cũng ghi nhận độ nhớt máu tâm trương tăng cao có liên quan đến cả khởi phát đột quỵ tắc mạch nhỏ cấp tính lẫn tổn thương mạch máu nhỏ mạn tính trên hình ảnh học [1]. Tuy nhiên, nghiên cứu năm 2017 này có cỡ mẫu nhỏ, thiết kế cắt ngang chưa khẳng định được quan hệ nhân quả và có tỷ lệ mất dấu theo dõi là 34,9% (22 bệnh nhân) [1]. Dù vậy, các tác giả nhận thấy độ nhớt máu có thể bị ảnh hưởng dễ dàng bởi liệu pháp bù dịch hoặc uống nước [1]. Vì thế, để tránh hiệu ứng pha loãng máu tạm thời do nước, các bác sĩ đã phải lấy mẫu máu khi bệnh nhân đang nhịn ăn và trước khi truyền dịch [1].

Ai dễ bị cô đặc máu vào buổi sáng?

Không phải ai thức dậy vào buổi sáng cũng bị tăng độ nhớt máu giống nhau [7]. Một nghiên cứu công bố năm 2000 đã đo độ nhớt máu toàn phần, dung tích hồng cầu (hematocrit) và nồng độ fibrinogen huyết tương của 12 bệnh nhân mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSAS) và 8 người khỏe mạnh [7]. Mẫu máu tĩnh mạch được lấy vào lúc 20-21 giờ tối hôm trước và 7-8 giờ sáng hôm sau [7].

Kết quả cho thấy ở nhóm 8 người khỏe mạnh, không có sự thay đổi nào về độ nhớt máu vào buổi sáng [7]. Ngược lại, ở nhóm bệnh nhân ngưng thở khi ngủ, cả dung tích hồng cầu, nồng độ fibrinogen và độ nhớt máu đã chuẩn hóa đều tăng lên đáng kể vào các giờ buổi sáng [7]. Tình trạng tăng độ nhớt máu buổi sáng này làm tăng nguy cơ thiếu máu não cục bộ ở người mắc chứng ngưng thở khi ngủ vào sáng sớm [7].

Ở những người đã có bệnh lý mạch máu não, nhịp sinh học của độ nhớt máu cũng bị rối loạn [8]. Một nghiên cứu công bố năm 1982 theo dõi 18 bệnh nhân đột quỵ (8 nữ, 10 nam, tuổi trung bình 65,4) và 12 người bình thường (4 nữ, 8 nam, tuổi trung bình 68) bằng máy đo lưu biến trong vòng 48 giờ sau đột quỵ và vào ngày thứ tư, tại các mốc 18 giờ và 24 giờ [8]. Nhóm bệnh nhân đột quỵ bị tăng độ nhớt máu rõ rệt và mất đi hiện tượng giảm độ nhớt máu sinh lý vào ban đêm như người bình thường [8].

Ngoài ra, một nghiên cứu quan sát công bố năm 2015 trên nhóm nhỏ bệnh nhân rung nhĩ mạn tính tại Nhật Bản cũng ghi nhận sự biến thiên nhịp sinh học của hệ thần kinh tự chủ vào ban đêm, sáng sớm và sau các bữa ăn (lúc 9 giờ, 13 giờ, 19 giờ) ở những người bị đột quỵ thiếu máu não [4]. Nghiên cứu này có hạn chế là cỡ mẫu nhỏ tại một trung tâm, có bệnh nhân tiểu đường đi kèm và tỷ lệ dùng thuốc kháng đông warfarin thấp (chỉ 53% ở nhóm có chỉ định) [4].

Hiểu lầm thường gặp về cốc nước ấm buổi sáng

Hiểu lầm lớn nhất là coi việc uống nước buổi sáng như một phương pháp điều trị thay thế thuốc men. Nghiên cứu năm 2017 chỉ ra rằng ở những bệnh nhân đột quỵ tắc mạch nhỏ, tình trạng tăng độ nhớt máu vẫn tái diễn ngay cả khi họ đang dùng thuốc dự phòng đột quỵ thứ phát [1]. Điều này có nghĩa là người bệnh cần kết hợp cả việc bù đủ nước lẫn các can thiệp điều trị y khoa nhắm vào độ nhớt máu và nguyên nhân gốc rễ, chứ không thể bỏ thuốc để chỉ uống nước [1].

Hiểu lầm thứ hai là nghĩ rằng chỉ cần uống thật nhiều nước vào một thời điểm ngay khi ngủ dậy là đủ cho cả ngày. Thực tế, uống nước chỉ tạo ra hiệu ứng pha loãng tạm thời đối với độ nhớt của máu [1]. Nếu chỉ uống một cốc lớn vào buổi sáng rồi nhịn khát suốt ngày, máu vẫn sẽ cô đặc trở lại.

Hiểu lầm thứ ba là đánh đồng nguyên nhân đột quỵ ở mọi người đều do máu đặc vì thiếu nước. Ở người khỏe mạnh bình thường, độ nhớt máu buổi sáng không tự nhiên tăng vọt như ở người mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ [7]. Đột quỵ còn do xơ vữa mạch máu lớn, cục máu đông từ tim ở người rung nhĩ hoặc biến động huyết áp bất thường [2][5].

Những ai nên thận trọng khi bù nước?

Dù uống nước rất cần thiết để giảm độ cô đặc máu, không phải ai cũng có thể uống lượng nước lớn cùng lúc. Những người có bệnh lý nền như suy tim, suy thận mạn tính hoặc xơ gan cổ trướng thường phải hạn chế lượng dịch nạp vào cơ thể theo chỉ định nghiêm ngặt. Việc uống dồn dập một cốc nước đầy ngay khi thức dậy ở nhóm này có thể gây quá tải tuần hoàn, dẫn đến phù hoặc khó thở.

Bên cạnh đó, những bệnh nhân đang điều trị tăng huyết áp, rung nhĩ, tiểu đường hoặc từng bị đột quỵ cần tuân thủ tuyệt đối phác đồ thuốc của bác sĩ [2][4]. Người có biểu hiện ngáy to, buồn ngủ ban ngày nghi ngờ mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ cần đi khám chuyên khoa để kiểm soát tình trạng tăng độ nhớt máu buổi sáng thay vì chỉ tự uống nước tại nhà [7]. Mọi sự thay đổi về lượng nước uống hằng ngày ở người có bệnh mạn tính đều nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị.

Cách uống nước và sinh hoạt buổi sáng an toàn

Để hỗ trợ tuần hoàn máu và giảm nguy cơ cô đặc máu mà không gây áp lực cho cơ thể, người trưởng thành khỏe mạnh có thể áp dụng thói quen bù nước hợp lý. Khi thức dậy, bạn nên uống từ từ một cốc nước ấm vừa phải (khoảng 200-250 ml) theo từng ngụm nhỏ thay vì uống cạn một hơi.

Trước khi bước xuống giường, hãy nằm hoặc ngồi lại vài phút để cơ thể thích nghi. Thao tác chuyển tư thế từ từ rất quan trọng vì việc thức dậy và đứng lên đột ngột vào buổi sáng là lúc độ kết tập tiểu cầu, độ nhớt máu và huyết áp dễ tăng cao [2].

Trong suốt cả ngày, hãy duy trì việc uống đủ nước rải đều theo nhu cầu cơ thể để tránh tình trạng mất nước làm tăng độ nhớt máu [1][5]. Người có nguy cơ cao cần theo dõi huyết áp định kỳ, đặc biệt là huyết áp buổi sáng và ban đêm, đồng thời duy trì chế độ ăn cân bằng, giảm muối và dùng thuốc đúng giờ theo đơn của bác sĩ [2].

Uống một cốc nước ấm sau khi thức dậy là thói quen tốt giúp bù dịch và làm giảm tạm thời độ quánh của máu sau giấc ngủ dài [1]. Tuy nhiên, đây chỉ là một biện pháp hỗ trợ sinh lý đơn giản, hoàn toàn không thể thay thế việc kiểm soát huyết áp, điều trị chứng ngưng thở khi ngủ hay dùng thuốc dự phòng đột quỵ [7][2][1]. Lắng nghe cơ thể, bù nước đều đặn cả ngày và khám sức khỏe định kỳ mới là chìa khóa vững chắc để bảo vệ mạch máu não.