Nhiều người tăng huyết áp truyền tai nhau thói quen uống thật nhiều nước lọc mỗi ngày để "làm loãng máu", giảm áp lực lên thành mạch và ngừa tai biến. Thậm chí, không ít bệnh nhân cố gắng nạp lượng nước vượt mức nhu cầu cơ thể với hy vọng hạ chỉ số huyết áp tự nhiên.

Thực tế, mất nước làm tăng độ quánh của máu và gây bất lợi cho hệ tim mạch [1]. Tuy nhiên, ở người đã đủ nước, việc cố uống thêm nhiều nước không làm giảm độ quánh máu dài hạn [2] [3]. Kiểm soát huyết áp phụ thuộc chặt chẽ vào cân bằng nước - muối (natri) và chức năng thận hơn là chỉ nạp thật nhiều nước đơn thuần [4] [5].

Độ quánh của máu và trương lực mạch máu ảnh hưởng huyết áp ra sao?

Huyết áp được quyết định bởi cung lượng tim (lượng máu tim bơm đi) và tổng sức cản ngoại vi (độ co giãn của mạch máu và lực cản dòng chảy) [4] [6]. Độ quánh của máu (độ nhớt máu) là một yếu tố cấu thành tổng sức cản ngoại vi [6]. Khi máu đặc hơn, lực ma sát giữa dòng máu và thành mạch tăng lên, buộc tim phải bơm mạnh hơn và làm tăng áp lực động mạch [6].

Độ quánh của máu phụ thuộc vào ba thành phần chính: tỷ lệ thể tích hồng cầu (hematocrit), độ nhớt của huyết tương và nồng độ fibrinogen (một loại protein đông máu làm tăng kết tập hồng cầu) [7] [6]. Các yếu tố này có thể bị đẩy lên cao khi cơ thể rơi vào trạng thái mất nước [1].

Bên cạnh độ quánh máu, lượng dịch và nồng độ natri trong cơ thể tác động trực tiếp đến trương lực mạch máu [5]. Khi nạp quá nhiều muối natri vượt khả năng bài tiết của thận, cơ thể giữ nước và muối, làm tăng thể tích dịch ngoại bào [4]. Tình trạng quá tải muối kích hoạt hệ thần kinh giao cảm tại thận, làm thay đổi chức năng nội mô (lớp lót trong lòng mạch), tăng sức cản ngoại vi toàn thân và làm cứng các động mạch đàn hồi lớn, cuối cùng dẫn đến tăng huyết áp [4] [5].

Ở cấp độ tế bào, cấu trúc màng hồng cầu cũng liên quan đến huyết áp [8]. Một nghiên cứu năm 1994 khảo sát độ nhớt vi mô của màng hồng cầu trên ba dòng chuột tăng huyết áp thực nghiệm (chuột Sabra, chuột Dahl nhạy cảm với muối và chuột Lyon tăng huyết áp tự phát) [8]. Kết quả cho thấy độ nhớt vi mô ở phần lõi màng hồng cầu giảm đáng kể ở chuột Dahl và chuột Sabra có tăng huyết áp do muối, đồng thời chỉ số này tương quan nghịch với huyết áp tâm thu và tâm trương ở cả ba dòng chuột [8]. Các nhà khoa học lưu ý cần thêm thực nghiệm để làm rõ đây là cơ chế sinh bệnh hay hệ quả của biến đổi huyết động [8].

Bằng chứng về mối liên hệ giữa độ quánh máu và tăng huyết áp

Mối tương quan giữa máu cô đặc và chỉ số huyết áp cao đã được ghi nhận rõ qua các nghiên cứu trên người [7] [6]. Nghiên cứu năm 1983 so sánh 25 bệnh nhân tăng huyết áp giới hạn và 25 người có huyết áp bình thường [6]. Kết quả chỉ ra ở mọi điều kiện dòng chảy thực nghiệm, độ quánh của máu đều tương quan thuận với cả huyết áp tâm thu và tâm trương, đồng thời cao hơn ở nhóm tăng huyết áp [6].

Ở nhóm bệnh nhân này, tỷ lệ thể tích hồng cầu tĩnh mạch (hematocrit) và độ nhớt huyết tương đều cao hơn người bình thường, làm tăng độ quánh máu khi dòng chảy nhanh [6]. Khi dòng chảy chậm, nồng độ fibrinogen cao làm các tế bào hồng cầu dễ kết dính với nhau hơn, tiếp tục đẩy độ quánh máu lên cao [6]. Nghiên cứu kết luận ngay cả mức tăng huyết áp động mạch tương đối nhỏ cũng đi kèm sự gia tăng lực cản nhớt của dòng máu [6].

Trên quy mô rộng hơn, nghiên cứu Edinburgh Artery Study công bố năm 1993 đã khảo sát mẫu ngẫu nhiên 1.592 nam và nữ tuổi từ 55 đến 74 trong cộng đồng [7]. Phân tích đơn biến cho thấy huyết áp tâm thu liên quan chặt chẽ với độ quánh máu, độ nhớt huyết tương và fibrinogen huyết tương (mối liên hệ với fibrinogen biến mất sau khi hiệu chỉnh theo chỉ số khối cơ thể BMI) [7]. Huyết áp tâm trương liên quan với độ quánh máu, độ nhớt huyết tương và hematocrit [7].

Đáng chú ý, sau khi phân tích đa biến hiệu chỉnh hàng loạt yếu tố (tuổi, giới, BMI, tầng lớp xã hội, hút thuốc, uống rượu, vận động, đau thắt ngực, cholesterol, đái tháo đường, độ nhớt huyết tương, fibrinogen và hematocrit), độ quánh máu vẫn liên quan độc lập với cả huyết áp tâm thu và tâm trương ở nam giới [7].

Uống nhiều nước có thực sự làm "loãng máu" và bảo vệ tim mạch?

Vì mất nước làm tăng độ quánh máu, hematocrit và fibrinogen, nhiều người suy luận uống thật nhiều nước sẽ làm loãng máu và ngừa bệnh mạch vành, nhồi máu não [1] [2]. Dữ liệu khoa học cho thấy lợi ích của nước là có thật, nhưng cơ chế không đơn giản là làm giảm độ quánh máu ở người bình thường [1] [2] [3].

Về lợi ích dài hạn, nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu Adventist Health Study công bố năm 2002 đã theo dõi 8.280 nam và 12.017 nữ từ 38 đến 100 tuổi (không có bệnh tim, đột quỵ hoặc đái tháo đường ở thời điểm bắt đầu năm 1976) trong 6 năm [1]. Trong thời gian này có 246 ca tử vong do bệnh mạch vành [1]. Những người uống nhiều nước lọc (từ 5 cốc trở lên mỗi ngày) so với người uống ít (từ 2 cốc trở xuống) có nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành thấp hơn đáng kể: tỷ số nguy cơ tương đối ở nam là 0,46 và ở nữ là 0,59 [1].

Ngược lại, uống nhiều các loại chất lỏng khác không phải nước lọc lại làm tăng nguy cơ tử vong mạch vành với tỷ số nguy cơ tương đối ở nữ là 2,47 và ở nam là 1,46 [1]. Kết quả này giữ nguyên sau khi hiệu chỉnh theo tuổi, hút thuốc, tình trạng tăng huyết áp, BMI, trình độ học vấn và liệu pháp hormone ở nữ [1].

Tuy nhiên, khi kiểm chứng trực tiếp giả thuyết "uống thêm nước làm giảm độ quánh máu", các thử nghiệm lâm sàng lại cho kết quả khác [2] [3]. Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng năm 2006 thực hiện trên 67 nam giới và 27 phụ nữ mãn kinh có ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch và có thói quen uống ít nước (từ 0,5 lít/ngày trở xuống) [3]. Những người này được chia thành 3 nhóm trong 4 tuần: nhóm chứng (31 người), nhóm uống thêm 1 lít nước/ngày (32 người) và nhóm uống 1 lít nước ép việt quất/ngày (31 người) [3].

Sau 2 và 4 tuần, lượng nước tiểu ở nhóm uống nước và nước việt quất tăng mạnh (trung vị tăng lần lượt 872 ml và 725 ml so với 10 ml ở nhóm chứng), độ thẩm thấu nước tiểu và nồng độ natri, kali, creatinine niệu giảm xuống [3]. Thế nhưng, không có bất kỳ sự thay đổi nào về độ quánh máu toàn phần, nồng độ fibrinogen, protein toàn phần, mỡ máu, đường huyết hay insulin [3].

Một nghiên cứu khác năm 2007 trên các tình nguyện viên khỏe mạnh từ 31 đến 75 tuổi cũng đánh giá độ quánh máu sau khi uống nước cấp tính và sau 1 tuần uống nhiều nước [2]. Kết quả cho thấy việc uống nước ngay lập tức chỉ làm giảm độ quánh máu thoáng qua và vẫn nằm trong biên độ nhịp sinh học tự nhiên trong ngày [2]. Việc uống nhiều nước suốt 1 tuần không làm thay đổi độ quánh máu vào sáng sớm, mà chỉ làm tăng số lần đi tiểu [2].

Hiểu lầm thường gặp về nạp dịch và muối ở người tăng huyết áp

Sai lầm phổ biến nhất là tách rời việc uống nước khỏi việc kiểm soát lượng muối natri [4] [5]. Khi ăn mặn (tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa tiêu thụ quá mức là trên 5 g natri mỗi ngày), cơ thể giữ nước, làm tăng thể tích dịch ngoại bào và tăng huyết áp [4] [5]. Một phân tích gộp lớn cho thấy chỉ cần giảm vừa phải lượng muối ăn trong 4 tuần trở lên đã giúp hạ huyết áp đáng kể ở cả người tăng huyết áp lẫn người huyết áp bình thường, không phân biệt giới tính hay chủng tộc; giảm muối càng nhiều thì huyết áp tâm thu hạ càng mạnh [5].

Hiểu lầm thứ hai là cho rằng truyền dịch hoặc nạp lượng lớn chất lỏng chứa muối giúp khỏe người mà không ảnh hưởng huyết áp [4]. Một nghiên cứu năm 2020 trên bệnh nhân tăng huyết áp không nguy kịch cho thấy việc truyền dịch nước muối sinh lý trung bình trên 500 ml mỗi ngày liên tục trong 3 đến 5 ngày gây bất lợi cho kiểm soát huyết áp, làm tăng nguy cơ biến thiên huyết áp bất thường [4]. Ngược lại, việc sử dụng thuốc lợi tiểu (nhóm thuốc giúp đào thải bớt nước và muối) lại là yếu tố bảo vệ trước tình trạng biến thiên huyết áp này [4].

Hiểu lầm thứ ba là đánh đồng mọi loại đồ uống với nước lọc [1]. Dữ liệu từ nghiên cứu Adventist Health Study cho thấy chỉ nước lọc mới mang lại lợi ích giảm nguy cơ tử vong mạch vành, trong khi tiêu thụ nhiều các đồ uống khác ngoài nước lọc lại liên quan đến tăng nguy cơ tử vong ở phụ nữ [1].

Ai nên thận trọng khi điều chỉnh lượng nước uống?

Người tăng huyết áp kèm đái tháo đường cần đặc biệt lưu ý [4]. Do đường huyết cao kéo dài, độ quánh máu và huyết động của bệnh nhân đái tháo đường vốn đã khác người khỏe mạnh, cộng thêm tổn thương thận làm giảm khả năng đào thải natri [4]. Đái tháo đường kéo dài còn gây rối loạn thần kinh tim mạch, làm biến đổi nhịp sinh học huyết áp và tăng biến thiên huyết áp hàng ngày [4]. Nếu nạp thừa dịch, đặc biệt là dịch có muối, huyết áp sẽ rất khó kiểm soát [4].

Người có tiền sử biến cố tim mạch hoặc đang nằm viện cũng nhạy cảm với lượng dịch đưa vào cơ thể [4]. Nghiên cứu năm 2020 xác định tiền sử đái tháo đường, tiền sử biến cố tim mạch và truyền trên 500 ml nước muối/ngày trong 3-5 ngày là các yếu tố nguy cơ gây biến thiên huyết áp bất thường [4].

Ngoài ra, người cao tuổi hoặc người có chứng tiểu nhiều lần không nên cố uống quá nhiều nước với mục đích làm loãng máu [2]. Nghiên cứu năm 2007 khẳng định uống thừa nước không làm giảm độ quánh máu buổi sáng nhưng chắc chắn làm tăng tần suất đi tiểu, gây phiền toái và ảnh hưởng giấc ngủ [2]. Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu hoặc có bệnh thận, suy tim cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để biết định mức nước phù hợp, không tự ý uống thật nhiều nước.

Cách uống nước và ăn uống thực tế để ổn định huyết áp

Thay vì cố uống lượng nước khổng lồ, người tăng huyết áp nên duy trì trạng thái đủ nước đều đặn trong ngày để tránh mất nước làm cô đặc máu [1]. Mức tham khảo có lợi cho tim mạch từ nghiên cứu đoàn hệ là từ 5 cốc nước lọc trở lên mỗi ngày, chia nhỏ từng ngụm, vì uống dồn dập chỉ làm giảm độ quánh máu thoáng qua rồi thải ra qua nước tiểu [1] [2] [3].

Ưu tiên chọn nước lọc hoàn toàn thay vì các loại nước ngọt, đồ uống pha chế hay nước đóng chai có đường và điện giải cao [1]. Ngay cả khi uống thêm 1 lít nước ép việt quất mỗi ngày trong 4 tuần, nghiên cứu cũng không ghi nhận tác dụng làm giảm độ quánh máu hay cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch ngắn hạn [3].

Song song với uống nước đúng cách, biện pháp cốt lõi để giảm giữ nước và giảm sức cản mạch máu là cắt giảm muối ăn [5]. Hãy giữ lượng natri dưới ngưỡng 5 g/ngày theo khuyến cáo, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn, nước chấm mặn và kiên trì ăn nhạt tối thiểu từ 4 tuần trở lên để đạt hiệu quả hạ huyết áp rõ rệt [5].

Tóm lại, uống đủ nước lọc giúp phòng ngừa tình trạng máu cô đặc do mất nước và giảm nguy cơ biến cố mạch vành dài hạn [1]. Tuy nhiên, nạp thừa nước không thể "rửa" hay làm loãng máu thêm ở người đã đủ dịch, mà cần kết hợp ăn giảm muối và tuân thủ phác đồ thuốc của bác sĩ để bảo vệ mạch máu bền vững [5] [2] [3].