Nhiều người bệnh, đặc biệt là bệnh nhân ung thư, truyền tai nhau các phương pháp thực dưỡng cực đoan như nhịn uống nước hoặc chỉ nhấp từng ngụm nhỏ vì quan niệm nước mang tính "âm", cần hạn chế tối đa để cân bằng thể trạng. Không ít người tin rằng việc kiêng khem này giúp cô lập tế bào ác tính và thanh lọc độc tố khỏi cơ thể.

Quan niệm kiêng nước trị bệnh hoàn toàn thiếu căn cứ khoa học và tiềm ẩn rủi ro khôn lường đối với hệ tiết niệu. Giới hạn dịch đưa vào cơ thể ở mức quá thấp đẩy thận vào tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng cục bộ, gây tổn thương ống thận cấp tính, hình thành sỏi tiết niệu và đẩy nhanh tiến trình suy giảm chức năng thận không hồi phục.

Cơ chế sinh lý khi cơ thể bị hạn chế dịch nghiêm trọng

Thận đảm nhận chức năng lọc máu liên tục nhằm đào thải chất chuyển hóa dư thừa, cân bằng điện giải và duy trì huyết áp ổn định. Quá trình lọc tại cầu thận phụ thuộc trực tiếp vào áp lực tưới máu và thể tích tuần hoàn hiệu dụng trong lòng mạch.

Khi một người kiêng nước nghiêm ngặt, thể tích dịch nội mạch sụt giảm nhanh chóng. Hiện tượng giảm thể tích tuần hoàn làm giảm lưu lượng máu đến thận, gây thiếu máu cục bộ tại vùng tủy thận – nơi vốn nhạy cảm với tình trạng thiếu oxy. Căng thẳng huyết động kéo dài khiến các tế bào biểu mô ống thận bị tổn hại và hoại tử.

Bên cạnh tổn thương cấu trúc lọc, việc thiếu nước làm lượng nước tiểu giảm rõ rệt và trở nên cô đặc. Nồng độ các chất hòa tan như canxi, oxalat và axit uric tăng cao vượt ngưỡng bão hòa trong lòng ống thận, dẫn đến kết tinh sỏi và cản trở lưu thông dòng nước tiểu, làm tăng nguy cơ suy thận cấp sau thận.

Cảnh báo từ các nghiên cứu về chiến lược hạn chế dịch

Các dữ liệu y khoa hiện đại ghi nhận rõ ràng rằng chiến lược hạn chế dịch quá mức đem lại nguy cơ suy giảm chức năng thận rõ rệt so với nhóm được bù đủ lượng nước cần thiết.

Năm 2022, một nghiên cứu quan sát tiến cứu và phân tích hồi cứu thực hiện trên 397 bệnh nhân phẫu thuật cắt gan nhằm đánh giá ảnh hưởng của lượng dịch đưa vào đối với biến chứng suy thận cấp sau mổ [1]. Các tác giả so sánh chiến lược hạn chế dịch (dưới hoặc bằng 5 mL/kg/giờ) ở 121 bệnh nhân và chiến lược bù dịch thông thoáng (trên 5 mL/kg/giờ) ở 276 bệnh nhân [1]. Kết quả ghi nhận có 133 trên tổng số 397 bệnh nhân bị suy thận cấp [1].

Sau khi dùng phương pháp bắt cặp điểm xu hướng nhằm cân bằng các yếu tố gây nhiễu, chiến lược bù dịch thông thoáng liên quan đến mức giảm nguy cơ suy thận cấp rõ rệt so với nhóm hạn chế dịch (tỷ số nguy cơ Hazard Ratio 0,40; khoảng tin cậy 95% từ 0,29 đến 0,56; p < 0,001) [1]. Bệnh nhân bị tổn thương thận cấp có thời gian nằm viện kéo dài hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn [1]. Nghiên cứu kết luận hạn chế dịch là yếu tố nguy cơ phát triển tổn thương thận cấp với các hệ quả nghiêm trọng [1].

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng mang tên MAYDAY công bố năm 2024 tại một trung tâm y tế cũng cho thấy hậu quả tương tự trên 40 bệnh nhân nữ phẫu thuật tái tạo vú [2]. Nghiên cứu so sánh hai phác đồ bù dịch thông thoáng (15 bệnh nhân) và hạn chế dịch (19 bệnh nhân) bằng cách đo lường các dấu ấn sinh học niệu đặc hiệu gồm TIMP-2 và IGFBP-7 để phát hiện căng thẳng ống thận [2].

Kết quả cho thấy nhóm hạn chế dịch có nồng độ dấu ấn sinh học tăng cao đáng kể ngay sau phẫu thuật, phản ánh tế bào ống thận đang chịu áp lực tổn thương nặng [2]. Tỷ lệ bệnh nhân gặp biến chứng tổn thương thận cấp ở nhóm hạn chế dịch là 21% (4/19 bệnh nhân), cao hơn so với 13% (2/15 bệnh nhân) ở nhóm bù dịch thông thoáng [2]. Thử nghiệm khẳng định việc hạn chế dịch làm gia tăng đáng kể nguy cơ tổn thương thận cấp [2].

Hạn chế dịch kết hợp thuốc chuyển hóa: Tác động cộng gộp tiêu cực

Tình trạng thiếu nước trở nên nguy hiểm gấp bội khi người bệnh đang sử dụng các loại thuốc điều trị triệu chứng hoặc kháng viêm trong quá trình điều trị ung thư và phẫu thuật.

Nghiên cứu công bố năm 2017 theo dõi hồ sơ y tế của các bệnh nhân phẫu thuật tụy vào năm 2014 (58 người) và năm 2015 (65 người áp dụng phác đồ hồi phục sớm có hạn chế dịch) [3]. Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ suy thận cấp ở nhóm hạn chế dịch trong phác đồ hồi phục sớm lên tới 12,5%, cao hơn nhiều so với mức 1,8% ở nhóm trước đó (p = 0,035) [3].

Phân tích sâu chỉ ra rằng việc sử dụng các thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 (COX-2) ở nhóm hạn chế dịch liên quan trực tiếp đến sự gia tăng suy thận cấp (p = 0,018) [3]. Nhóm nghiên cứu kết luận sự kết hợp giữa phác đồ hạn chế dịch và thuốc ức chế COX-2 tạo ra tác động đặc biệt có hại cho thận [3]. Điều này cảnh báo rõ ràng rằng người bệnh kiêng nước trong khi vẫn dùng thuốc giảm đau, kháng viêm sẽ tự đẩy thận vào tình trạng suy sụp nhanh chóng.

Mặc dù hạn chế dịch gây nguy cơ lớn, việc dư thừa dịch quá mức cũng để lại hậu quả nghiêm trọng. Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu năm 2025 trên 691 bệnh nhân phẫu thuật gan mở cho thấy nhóm có cân bằng dịch dương trên 2 lít có nguy cơ suy thận cấp cao hơn đáng kể so với nhóm có cân bằng dịch dưới 1 lít hoặc từ 1 đến 2 lít (nguy cơ tương đối hiệu chỉnh 1,85; p = 0,042; khoảng tin cậy 95% từ 1,02 đến 3,38) [4]. Tổng tỷ lệ suy thận cấp chung trong nghiên cứu này là 11,58% [4].

Nghiên cứu REVERSE-AKI năm 2020 cũng nhấn mạnh tổn thương thận cấp là hội chứng phổ biến ở bệnh nhân hồi sức tích cực, chiếm 40% đến 57% các trường hợp và khoảng một phần năm số người suy thận cấp nặng cần can thiệp lọc máu thay thế thận [5]. Do đó, việc duy trì thể tích tuần hoàn vừa đủ là yếu tố then chốt, còn cực đoan nhịn uống hoặc ép uống quá nhiều đều gây bất lợi [4].

Hiểu lầm tai hại về việc kiêng nước ở bệnh nhân ung thư

Quan niệm nhịn nước để "bỏ đói khối u" hay "trục xuất độc tố âm hàn" là sai lầm nguy hiểm không có cơ sở sinh học. Khối u tiêu thụ glucose và dưỡng chất qua hệ thống tân mạch; việc thiếu nước không làm tiêu giảm khối u mà làm kiệt quệ các cơ quan nội tạng bình thường trước tiên.

Nhiều bệnh nhân thấy lượng nước tiểu giảm, màu sẫm lại lầm tưởng cơ thể đang thải độc đặc. Thực tế, nước tiểu sẫm màu và giảm lượng là tín hiệu báo động thận đang cố gắng tái hấp thu từng giọt nước để giữ huyết áp, khiến các cặn lắng canxi, oxalat tích tụ dày đặc tại đài bể thận, mở đường cho sỏi thận hình thành.

Khi chức năng thận sụp đổ, người bệnh không chỉ đối mặt với nguy cơ phải lọc máu cấp cứu mà còn mất đi cơ hội tiếp tục các liệu pháp điều trị đặc hiệu như hóa trị, xạ trị do cơ thể không còn khả năng dung nạp độc tính của thuốc.

Những đối tượng cần tuyệt đối tránh nhịn nước

Bệnh nhân ung thư đang tiếp nhận hóa chất, thuốc nhắm trúng đích hoặc xạ trị là nhóm đối tượng dễ tổn thương nhất. Thuốc điều trị cần dung môi để hòa tan và bài tiết an toàn qua thận; thiếu nước làm nồng độ độc chất tăng vọt trong mô thận gây hoại tử ống thận cấp.

Người bệnh đang dùng các thuốc giảm đau nhóm kháng viêm không steroid (NSAIDs) hoặc ức chế COX-2 cần duy trì đủ lượng dịch để bảo vệ tưới máu thận [3]. Sự phối hợp giữa thiếu dịch và các thuốc này ngăn cản cơ chế tự điều hòa mạch máu thận [3].

Người cao tuổi, người có tiền sử sỏi tiết niệu, đái tháo đường hoặc suy thận mạn giai đoạn sớm tuyệt đối không áp dụng các chế độ kiêng nước thực dưỡng. Khả năng cô đặc nước tiểu và tự bù trừ của thận ở các nhóm này đã suy giảm, rất dễ chuyển biến thành đợt cấp của suy thận mạn.

Lời khuyên duy trì lượng nước khoa học

Người trưởng thành có chức năng tim thận bình thường cần bổ sung nước đều đặn suốt cả ngày, không đợi đến khi khát khô cổ họng mới uống. Lượng nước trung bình khuyến nghị dao động từ 1,5 đến 2 lít mỗi ngày, điều chỉnh linh hoạt theo thời tiết, cường độ vận động và tình trạng sức khỏe cụ thể.

Theo dõi màu sắc nước tiểu là cách tự đánh giá đơn giản và chuẩn xác nhất: nước tiểu có màu vàng rơm nhạt cho thấy cơ thể đủ nước, màu vàng sậm cảnh báo cần uống thêm ngay. Nên uống từng ngụm nhỏ, rải đều từ sáng đến tối, ưu tiên nước lọc đun sôi để nguội hoặc nước canh thanh đạm.

Đối với người bệnh có bệnh lý nền như suy tim, xơ gan hoặc bệnh thận mạn tính có chỉ định hạn chế dịch từ bác sĩ điều trị, việc phân bổ lượng nước nạp vào phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hướng dẫn chuyên môn, không tự ý cắt giảm hay tăng liều lượng dựa trên các phương pháp truyền miệng.

Áp dụng chế độ ăn uống khoa học đòi hỏi sự hiểu biết đúng đắn về sinh lý cơ thể thay vì tin theo các trào lưu cực đoan. Nước là yếu tố sống còn duy trì chức năng lọc của thận và bài tiết độc chất. Người bệnh cần thảo luận trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa trước khi thay đổi bất kỳ thói quen ăn uống nào để bảo vệ tính mạng và hiệu quả điều trị.