Liều lượng và cách bảo quản Cần núi
Cần núi (Levisticum officinale) là thảo dược hâm can, chứa monoterpen và coumarin. Liều dùng tham khảo trên chuột là 100–400 mg/kg trong một tuần, chưa có liều dùng an toàn cho người.
Những thắc mắc thường gặp về ăn uống, dược liệu và sức khỏe, trả lời bằng nghiên cứu khoa học có ghi rõ nguồn.
1 trình duyệt độc giả · 1 lượt đọc
1 trình duyệt độc giả · 1 lượt đọc
1 trình duyệt độc giả · 1 lượt đọc
1 trình duyệt độc giả · 1 lượt đọc
3.099 bài, trang 152 trên 155
Cần núi (Levisticum officinale) là thảo dược hâm can, chứa monoterpen và coumarin. Liều dùng tham khảo trên chuột là 100–400 mg/kg trong một tuần, chưa có liều dùng an toàn cho người.
Cần núi (Levisticum officinale) là thảo dược họ Umbellifera, chứa đến 93,8% monoterpen chủ yếu là beta-phellandrene và alpha-terpineol. Nghiên cứu trên chuột cho thấy chiết xuất cần núi (LOE) 100–400 mg/kg trong một tuần có tác dụng bảo vệ hệ thần kinh, chống viêm, chống oxy hóa và giảm suy giảm học tập do LPS gây ra, nhưng hiện chưa có đủ bằng chứng khoa học về an toàn sử dụng lâu dài ở người.
Cần núi (Levisticum officinale) là thảo dược hâm can, chứa monoterpen chủ yếu là beta-phellandrene và alpha-terpineol, có tác dụng bảo vệ thần kinh, chống viêm, chống oxy hóa và ứng dụng mới làm biostimulant nông nghiệp.
Cần núi (Levisticum officinale) có thể gây kích ứng da do hàm lượng monoterpen lên đến 93,8%, đặc biệt ở người nhạy cảm. Ngoài ra, tính chất hâm can mạnh, tác động estrogenic và gây apoptotic đòi hỏi thận trọng khi dùng cho người mang thai, cho con bú, hoặc đang dùng thuốc hạ nhiệt, thuốc tiể mãn, hoặc có bệnh nền nội tiết.
Cần núi (Levisticum officinale) chứa monoterpen chính như beta-phellandrene và alpha-terpineol, cùng các hợp chất có tính estrogenic, gây apoptotic, chống vi khuẩn và phthalide mới từ rễ, cho tác dụng chống viêm, chống oxy hóa, bảo vệ thần kinh và bảo vệ gan, nhưng nên dùng thận trọng dưới sự hướng dẫn chuyên gia.
Cần núi (Levisticum officinale) là thảo dược có tính hâm can, giãi sãn, chống viêm và chống oxy hóa, nhưng hầu hết bằng chứng chỉ ở mô hình thí nghiệm chưa có nghiên cứu lâm sàng con người để khẳng định hiệu quả điều trị thực sự.
Cần núi (Levisticum officinale) có tác dụng chống viêm, chống oxy hóa và bảo vệ hệ thần kinh nhờ các hợp chất monoterpen như beta-phellandrene và alpha-terpineol, được chứng minh qua nghiên cứu trên chuột, nhưng chưa có bằng chứng lâm sàng đủ cho người.
Cần núi (Levisticum officinale) là thảo dược alp chứa monoterpen cao, có tính hâm can, giãi sãn, tiểu mãn và chống viêm; dùng lá hoặc rễ pha trà, tinh dầu pha loãng bôi da, nhưng chưa có bằng chứng lâm sàng đủ để khuyên dùng chung.
Cây cẩm địa (Kaempferia rotunda Linn.) chứa nhiều tinh dầu và các hợp chất polyoxygenated cyclohexane có hoạt tính chống oxi hóa mạnh (IC50 = 180 μg/mL với DPPH), cùng khả năng ức chế tế bào un và kháng viêm. Tuy nhiên, cơ chế hoạt động chi tiết và lợi ích lâm sàng chưa được khẳng định rõ ràng.
Cam là dược liệu và thực phẩm dân gian quan trọng trong y học cổ truyền Đông Nam Á và Trung Quốc, được sử dụng qua nhiều thế hệ nhờ kiến thức truyền miệng và kinh nghiệm cộng đồng, đặc biệt ở Lebanon và các vùng lân cận.
Cam chứa vitamin C, flavonoid (hesperidin, naringin), D-limonene và chất xơ pectin, tác động chống oxy hóa, hỗ trợ miễn dịch, củng cố mạch máu, kháng viêm và kiểm soát đường huyết. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào liều lượng và cách chế biến.
Cải xoong (Nasturtium officinale) là rau thủy sinh giàu dinh dưỡng, nhưng bằng chứng khoa học về tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ tim mạch và điều trị bệnh bẩm độn mỡ chủ yếu đến từ nghiên cứu động vật; chưa có nghiên cứu lâm sự trên người để khẳng định hiệu quả cụ thể.
Cải xoong chứa glucosinolates, isothiocyanates và polyphenols, hỗ trợ chống oxy hóa, kháng viêm, kháng ung thư theo một số nghiên cứu laborator và trên chuột. Tuy nhiên, quan niệm dân gian về tác dụng lợi tiểu mạnh trong phòng ngừa đá thận chưa được chứng minh khoa học.
Cải xoong (Nasturtium officinale) chứa nhiều nước, protid, glucid, cellulose, khoáng chất và vitamin C, cùng các hợp chất phenolic, flavonoid như gallic acid, catechin. Chiết xuất có tác dụng chống viêm, chống oxy hóa, bảo vệ tế bào và tiềm năng chống unc thần kinh.
Cải xoong (Nasturtium officinale) là thực vật thủy sinh giàu khoáng chất, vitamin C, flavonoid và men myrosinase, có tác dụng chống oxy hóa, hỗ trợ lợi tiểu, ngừa đá thận, điều chỉnh lipid và tiềm năng chống uncông tùng, nhưng hiệu quả lâm sàng trên người cần nghiên cứu thêm.
Cải xoong (Nasturtium officinale) là rau nước giàu vitamin C, khoáng chất và glucosinolates, có tác dụng lợi tiểu, tẩy độc, chống oxy hóa và kháng khuẩn. Dùng tươi sống hoặc thêm vào món ăn nhẹ nhất để giữ tác dụng chống unc và men myrosinase tốt nhất.
Cải ô rô (Cichorium intybus) là cây thuốc truyền thống có lịch sử dùng lâu đời ở Việt Nam với nhiều công dụng như trị ghẻ lở, chảy máu, hỗ trợ điều trị thấp khớp hay đau dạ dày. Tuy nhiên, bằng chứng khoa học hiện đại còn hạn chế, chủ yếu dựa trên nghiên cứu phòng thí nghiệm hoặc động vật, chưa có chứng minh rõ ràng cho cơ chế hoạt động và hiệu quả lâm sàng trên người.
Cải ô rô (Cichorium intybus L.) là cây thuốc dân gian có tác dụng bảo vệ gan, điều hòa hệ miễn dịch, hỗ trợ điều trị tiểu đường và béo phù, cùng tính chất chống oxy hóa và cải thiện sinh sản nam, nhưng cần tham khảo chuyên gia trước khi dùng điều trị bệnh.
Cải ngọt chứa glucosinolates, isothiocyanates, phenol và axit ascorbic với hoạt tính sinh học tiềm năng chống vi khuẩn đất, nhưng bằng chứng lâm sàng về lợi ích trao đổi chất ở con người còn hạn chế và chưa đồng nhất.
Cải ngọt chứa glucosinolates, phenol và axit ascorbic, hoạt động qua cơ chế ức chế vi khuẩn gây bệnh đất và cỏ dại nhờ các sản phẩm chuyển hóa như isothiocyanates và brassicanate A sulfoxide, hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, tim mạch, viêm gan.