Nhiều người có thói quen chợp mắt sau bữa trưa để nạp lại năng lượng cho cơ thể sau một buổi sáng làm việc mệt mỏi. Đối với những người mắc bệnh lý tim mạch hoặc suy tim, một giấc ngủ trưa kéo dài thường được xem như phương thức tĩnh dưỡng lý tưởng để tim bớt gánh nặng. Thế nhưng, liệu việc nằm ngủ trưa hàng giờ đồng hồ thực sự mang lại lợi ích phục hồi hay lại vô tình gây thêm áp lực lên tuần hoàn?

Dưới góc nhìn khoa học hiện đại, việc ngủ trưa quá dài không mang lại lợi ích phục hồi tim mạch như nhiều người lầm tưởng, mà ngược lại, có thể làm tăng gánh nặng tuần hoàn và làm trầm trọng thêm nguy cơ suy tim [1]. Các dữ liệu y khoa cho thấy thời gian ngủ trưa vượt quá mức trung bình có mối liên hệ mật thiết với sự suy giảm chức năng tim và gia tăng biến cố xơ vữa [2]. Do đó, người có nguy cơ tim mạch cần hiểu rõ các biến đổi sinh lý trong giấc ngủ ngắn để có chế độ nghỉ ngơi đúng cách.

Biến đổi nhịp tim và hệ tuần hoàn trong giấc ngủ trưa

Khi chúng ta bước vào giấc ngủ ban ngày, hệ thống tim mạch trải qua những thay đổi sinh lý tự nhiên nhằm đưa cơ thể vào trạng thái nghỉ ngơi tạm thời [3]. Một nghiên cứu công bố năm 2017 ghi nhận rằng giấc ngủ ban ngày có liên quan đến việc kéo dài khoảng RR trên điện tâm đồ và tăng cường hoạt tính của thần kinh phế vị [3]. Sự gia tăng hoạt động đối giao cảm này tạo ra một giai đoạn tĩnh lặng cho hệ tim mạch, tương tự như những gì diễn ra trong giấc ngủ ban đêm [3].

Bên cạnh đó, giấc ngủ trưa ở mức độ hợp lý còn giúp phục hồi các cytokine tiền viêm như interleukin 6 và ổn định nồng độ catecholamine sau một đêm thiếu ngủ [3]. Nhờ vậy, tim có được một khoảng thời gian nghỉ ngơi tạm thời, giảm bớt tần số co bóp và huyết áp dao động [3].

Tuy nhiên, những đáp ứng có lợi này chỉ được ghi nhận rõ rệt trên các đối tượng người trẻ tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh và không có bệnh lý nền [3]. Ở những người đã có sẵn tổn thương cơ tim hoặc suy giảm chức năng bơm máu, việc chuyển đổi tư thế nằm và thời gian ngủ kéo dài lại đặt hệ thống tuần hoàn vào tình thế chịu tải bất lợi.

Bằng chứng di truyền: Nguy cơ suy tim và xơ vữa mạch vành

Để làm rõ việc ngủ trưa dài thực sự là nguyên nhân hay chỉ là phản ánh của tình trạng sức khỏe yếu kém, các nhà khoa học đã tiến hành các phân tích ngẫu nhiên hóa Mendelian [2]. Đây là phương pháp sử dụng các biến thể di truyền để xác định mối quan hệ nhân quả một cách khách quan nhất [2].

Một nghiên cứu công bố năm 2023 sử dụng phương pháp ngẫu nhiên hóa Mendelian hai mẫu, trích xuất dữ liệu từ Ngân hàng sinh học Vương quốc Anh và tổ hợp FinnGen với 49 biến thể đa hình đơn nucleotide (SNP) làm biến công cụ [2]. Kết quả phân tích bằng phương pháp hồi quy gia quyền nghịch đảo phương sai chỉ ra rằng xu hướng ngủ trưa do dự đoán di truyền làm tăng đáng kể nguy cơ mắc suy tim với tỷ số chênh OR là 1,71 [2]. Ngoài suy tim, ngủ trưa còn liên quan trực tiếp đến việc tăng nguy cơ mắc tăng huyết áp với tỷ số OR là 1,51, rung nhĩ với tỷ số OR là 1,71, loạn nhịp tim với tỷ số OR là 1,47 và xơ vữa động mạch vành với tỷ số OR là 1,77 [2]. Đáng chú ý, mối liên hệ nhân quả giữa ngủ trưa với tăng huyết áp, rung nhĩ và loạn nhịp tim đã biến mất sau khi các nhà khoa học tiến hành hiệu chỉnh yếu tố béo phì [2].

Cùng năm 2023, một nghiên cứu khác áp dụng phương pháp ngẫu nhiên hóa Mendelian với 79 biến thể SNP cũng cho kết quả tương đồng [1]. Phân tích di truyền chứng minh thói quen ngủ trưa thường xuyên làm tăng tỷ số chênh của bệnh xơ vữa động mạch vành lên 1,55, nhồi máu cơ tim lên 1,63 và suy tim lên mức 1,80 [1]. Khi tiến hành phân tích tổng hợp mạng lưới, những người ngủ trưa trung bình trên 60 phút mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn rõ rệt so với những người không ngủ trưa, với tỷ số nguy cơ gộp là 1,98 [1].

Tiếp tục làm rõ vấn đề này, một nghiên cứu công bố năm 2024 phân tích các biến thể di truyền từ Ngân hàng sinh học Vương quốc Anh và các nghiên cứu bộ gen Phần Lan nhằm khảo sát 15 bệnh lý tim mạch [4]. Nghiên cứu này khẳng định ngủ trưa được dự đoán theo kiểu gen làm gia tăng nguy cơ suy tim với tỷ số OR là 1,366, xơ vữa động mạch vành với tỷ số OR là 1,918, nhồi máu cơ tim với tỷ số OR là 1,505 và bệnh mạch vành với tỷ số OR là 1,519 [4]. Trái lại, nghiên cứu này nhận thấy việc duy trì thời lượng ngủ kéo dài vào ban đêm lại có liên quan đến việc giảm nguy cơ suy tim với tỷ số OR là 0,995, bệnh mạch ngoại biên với tỷ số OR là 0,984 và bệnh mạch vành với tỷ số OR là 0,997 [4].

Thiết bị đo đạc chỉ ra mốc thời gian báo động

Không chỉ dừng lại ở các phân tích di truyền, các theo dõi vận động thực tế trên đời sống thường nhật cũng đưa ra những cảnh báo rõ nét về mốc thời gian ngủ trưa [5]. Một nghiên cứu thuần tập tiến cứu công bố năm 2021 thuộc Dự án Trí nhớ và Lão hóa Rush đã theo dõi 1.140 người cao tuổi có độ tuổi trung bình 80,7 tuổi, trong đó nữ giới chiếm 76,1% [5]. Toàn bộ các đối tượng tham gia đều không mắc suy tim ở thời điểm ban đầu và được theo dõi hàng năm trong thời gian kéo dài lên tới 14 năm [5].

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng thiết bị đo gia tốc vận động đeo trên người trong 10 ngày để ghi nhận khách quan các đợt ngủ trưa từ 9 giờ sáng đến 7 giờ tối [5]. Trong suốt thời gian theo dõi, có 86 người đã tiến triển thành suy tim thực sự, với thời gian khởi phát trung bình là 5,7 năm [5]. Kết quả phân tích mô hình rủi ro tỷ lệ Cox cho thấy những người ngủ trưa dài hơn 44,4 phút mỗi ngày có nguy cơ mắc suy tim mới cao gấp 1,73 lần so với những người ngủ trưa dưới 44,4 phút [5].

Không chỉ thời lượng mà tần suất chợp mắt ban ngày cũng là một chỉ dấu cảnh báo [5]. Nghiên cứu ghi nhận những người có số lần ngủ trưa nhiều hơn 1,7 lần mỗi ngày có nguy cơ tiến triển thành suy tim cao gấp 2,20 lần so với những người ngủ ít hơn 1,7 lần mỗi ngày [5]. Đáng lưu ý, mối liên hệ này vẫn duy trì ý nghĩa thống kê ngay cả sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố về giấc ngủ ban đêm, bệnh lý mắc kèm và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác [5].

Tác động cộng gộp trên bệnh nhân tiểu đường và phụ nữ mãn kinh

Mối nguy hại từ việc ngủ trưa kéo dài càng lộ rõ ở những bệnh nhân có sẵn rối loạn chuyển hóa hoặc đường huyết bất ổn [6]. Một nghiên cứu tiến cứu công bố năm 2025 theo dõi 21.129 người trưởng thành mắc bệnh đái tháo đường týp 2 từ Ngân hàng sinh học Vương quốc Anh trong thời gian trung bình 11,9 năm [6]. Tất cả các đối tượng này đều không mắc biến cố tim mạch lớn hay ung thư tại thời điểm bắt đầu tham gia [6].

Qua quá trình theo dõi dài hạn, nghiên cứu đã ghi nhận 5.611 biến cố tim mạch bất lợi lớn, 3.854 trường hợp tử vong do mọi nguyên nhân và 1.839 ca tử vong đặc hiệu do bệnh tim mạch [6]. So với những bệnh nhân không bao giờ hoặc hiếm khi ngủ trưa, những người thường xuyên ngủ trưa có tỷ số nguy cơ đa biến tăng 1,39 lần đối với các biến cố tim mạch lớn, tăng 1,44 lần đối với nhồi máu cơ tim, tăng 1,33 lần đối với suy tim và tăng 1,57 lần đối với đột quỵ [6]. Tỷ lệ tử vong chung do mọi nguyên nhân cũng tăng 1,28 lần và tử vong do tim mạch tăng 1,33 lần ở nhóm này [6]. Nguy cơ tim mạch và tử vong tăng lên đặc biệt rõ rệt ở những bệnh nhân tiểu đường có tổng thời lượng ngủ kéo dài trên 10 giờ và có tình trạng tiểu đường nặng [6].

Bên cạnh bệnh tiểu đường, phụ nữ trong độ tuổi sau mãn kinh cũng là nhóm chịu ảnh hưởng rõ rệt từ giấc ngủ trưa [7]. Một nghiên cứu năm 2016 trên 4.616 phụ nữ sau mãn kinh tại Trung Quốc đã xem xét điểm số nguy cơ tim mạch Framingham [7]. Kết quả chỉ ra rằng thời gian ngủ trưa dài hơn có mối liên hệ tỷ lệ thuận với hàng loạt yếu tố nguy cơ chuyển hóa như tuổi tác, vòng eo, huyết áp tâm thu, chỉ số mỡ máu triglyceride, nồng độ glucose lúc đói, glucose sau nạp và chỉ số HbA1c [7].

Tỷ lệ mắc nguy cơ cao đối với bệnh mạch vành tăng dần theo thời lượng ngủ: đạt 3,7% ở nhóm không ngủ trưa, 4,3% ở nhóm ngủ từ 0,1 đến 1 giờ và vọt lên 6,9% ở nhóm ngủ trên 1 giờ mỗi ngày [7]. Sau khi phân tích hồi quy logistic đa biến, những phụ nữ ngủ trưa trên 1 giờ có nguy cơ mắc bệnh mạch vành cao gấp 1,61 lần so với nhóm không ngủ trưa [7]. Ngược lại, thời gian ngủ vào ban đêm lại không cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với nguy cơ bệnh mạch vành ở nhóm phụ nữ này [7].

Tương tác giữa giấc ngủ trưa và giấc ngủ ban đêm

Tác động của giấc ngủ ban ngày không diễn ra độc lập mà có sự tương tác chặt chẽ với tổng thể chu kỳ ngủ nghỉ trong ngày [8]. Một nghiên cứu công bố năm 2022 trên quần thể các cặp song sinh chỉ ra rằng cả việc ngủ trưa từ 1 đến 30 phút hay trên 30 phút đều có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch so với người không ngủ [8]. Nghiên cứu này ghi nhận nguy cơ tim mạch đạt mức cao nhất ở những người có thời lượng ngủ ban đêm dưới 7 giờ kèm theo thời gian ngủ trưa từ 30 phút trở lên [8].

Giấc ngủ trưa kéo dài vẫn gắn liền với nguy cơ tim mạch cao hơn ngay cả ở những người đã ngủ đủ từ 7 đến 9 giờ mỗi đêm [8]. Nhiều bằng chứng tổng hợp trước đó cũng cho thấy thời lượng ngủ trưa từ 60 phút trở lên làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch [8]. Đồng thời, sự phối hợp giữa việc ngủ đêm kéo dài từ 9 giờ trở lên kết hợp với ngủ trưa trên 90 phút có thể gây gia tăng nguy cơ đột quỵ [8].

Các nhà khoa học cũng lưu ý rằng các biểu hiện như ngáy có thể phản ánh tình trạng rối loạn nhịp thở khi ngủ, gây ra những tác động tiêu cực cấp tính và dài hạn lên sức khỏe tim mạch [8]. Khi chất lượng giấc ngủ ban đêm bị chia cắt bởi tiếng ngáy hoặc mất ngủ, người bệnh thường có xu hướng tìm đến giấc ngủ trưa dài hơn để bù đắp, vô tình tạo thành một vòng xoắn bệnh lý bất lợi cho tuần hoàn [8].

Giới hạn của bằng chứng và những ngộ nhận thường gặp

Một ngộ nhận phổ biến trong cộng đồng là cho rằng hễ mắc bệnh tim thì phải nằm nghỉ và ngủ càng nhiều càng tốt để tim hồi phục. Mặc dù giấc ngủ trưa có thể đem lại trạng thái êm dịu tạm thời cho hệ tuần hoàn thông qua sự kích hoạt thần kinh phế vị ở người khỏe mạnh, việc này không đồng nghĩa với việc ngủ trưa vô độ là có lợi cho người bệnh tim [3]. Các bằng chứng di truyền học và nghiên cứu tiến cứu đều chỉ ra rằng ngủ trưa kéo dài trên 44 hoặc 60 phút làm gia tăng đáng kể nguy cơ suy tim và các bệnh lý tắc nghẽn mạch vành [1] [5].

Tuy nhiên, người bệnh cũng cần nhìn nhận các giới hạn nhất định trong các bằng chứng khoa học hiện nay. Mặc dù các nghiên cứu di truyền Mendelian chứng minh ngủ trưa làm tăng nguy cơ tăng huyết áp hay loạn nhịp tim, nhưng mối liên hệ này đã mất đi sau khi tính toán đến yếu tố béo phì [2]. Điều đó cho thấy cân nặng và lối sống chuyển hóa đóng vai trò trung gian rất lớn trong việc dẫn đến các biến cố tim mạch [2]. Ngoài ra, một số dữ liệu dịch tễ học vẫn dựa trên bảng câu hỏi tự khai báo thời gian ngủ, vốn có thể chứa đựng sai số nhớ lại của người tham gia [6] [7]. Các nghiên cứu can thiệp lâm sàng chuyên sâu trên từng phân độ suy tim vẫn cần được mở rộng thêm để làm sáng tỏ cơ chế sinh lý bệnh chi tiết [5] [3].

Ai nên thận trọng với giấc ngủ trưa dài?

Dựa trên các bằng chứng khoa học đã được công bố, những nhóm đối tượng dưới đây cần đặc biệt kiểm soát thời lượng nghỉ ngơi ban ngày:

  • Người cao tuổi, người có tiền sử suy giảm chức năng tim hoặc có triệu chứng suy tim tiềm ẩn [5].
  • Bệnh nhân đái tháo đường týp 2, đặc biệt là những người có diễn tiến bệnh nặng hoặc có tổng thời gian ngủ trong ngày vượt quá 10 giờ [6].
  • Phụ nữ ở giai đoạn sau mãn kinh có các chỉ số chuyển hóa bất lợi như vòng eo lớn, huyết áp tâm thu cao hoặc mỡ máu tăng [7].
  • Những người thường xuyên ngáy to, nghi ngờ có hội chứng ngưng thở khi ngủ hoặc thường xuyên mất ngủ vào ban đêm [8].

Đối với những người thuộc nhóm nguy cơ này, việc cảm thấy mệt mỏi và muốn ngủ trưa kéo dài có thể là dấu hiệu cảnh báo hệ tuần hoàn đang suy giảm khả năng cung cấp oxy. Do đó, người bệnh cần trao đổi trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa tim mạch để được đánh giá toàn diện, thay vì tự ý điều chỉnh bằng cách nằm nghỉ quá nhiều.

Cách thiết lập giấc ngủ trưa an toàn cho hệ tuần hoàn

Để bảo vệ sức khỏe tim mạch mà vẫn giữ được sự tỉnh táo cho các hoạt động buổi chiều, người dân cần xây dựng thói quen nghỉ ngơi khoa học:

  • Khống chế thời gian ngủ trưa: Giữ giấc ngủ ngắn trong khoảng từ 15 đến dưới 30 phút, tuyệt đối tránh kéo dài giấc ngủ vượt mốc 44 phút hoặc trên 60 phút mỗi ngày [1] [5].
  • Thời điểm hợp lý: Nên chợp mắt vào đầu giờ chiều, khoảng từ 12 giờ đến 13 giờ 30, tránh ngủ trưa quá muộn sau 15 giờ để không làm xáo trộn giấc ngủ ban đêm.
  • Tư thế nằm nghỉ: Với những người có bệnh lý tim mạch, nên chọn tư thế nửa nằm nửa ngồi hoặc kê cao đầu nhẹ nhàng nhằm giảm áp lực dồn máu tĩnh mạch về tim một cách đột ngột.
  • Đảm bảo giấc ngủ đêm: Duy trì giấc ngủ ban đêm chất lượng từ 7 đến 8 giờ, bởi việc thiếu ngủ đêm dưới 7 giờ kết hợp với ngủ trưa dài trên 30 phút là yếu tố làm tăng cao nhất nguy cơ tim mạch [8].
  • Thăm khám định kỳ: Khi xuất hiện cảm giác buồn ngủ quá mức vào ban ngày kèm theo khó thở khi nằm phẳng, người bệnh cần tới ngay cơ sở y tế để kiểm tra huyết động và điều chỉnh phác đồ dùng thuốc.

Giấc ngủ trưa có thể là liều thuốc phục hồi quý giá nếu được sử dụng điều độ, nhưng cũng có thể biến thành gánh nặng nguy hiểm cho hệ tim mạch nếu lạm dụng thời gian nghỉ ngơi quá mức. Người bệnh suy tim cần giữ thói quen ngủ trưa ngắn, kết hợp chế độ vận động nhẹ nhàng và tuân thủ chặt chẽ chỉ định của bác sĩ điều trị để bảo vệ trái tim khỏe mạnh.