Nhiều người thường nghĩ rằng huyết áp chỉ chịu ảnh hưởng từ căng thẳng công việc ban ngày, chế độ ăn nhiều muối hay thói quen lười vận động. Tuy nhiên, một giấc ngủ chập chờn hoặc tình trạng mất ngủ kéo dài nhiều tuần cũng có thể âm thầm đẩy huyết áp lên mức nguy hiểm vào ban đêm. Không ít người có chỉ số đo tại phòng khám hoàn toàn bình thường, nhưng ban đêm huyết áp lại không hề hạ xuống như quy luật tự nhiên.

Câu trả lời nằm ở sự gián đoạn của hiện tượng sinh lý bình thường mang tên "dipping" (trũng huyết áp ban đêm). Khi giấc ngủ bị cắt vụn, hệ thần kinh giao cảm vốn cần được nghỉ ngơi lại bị kích hoạt quá mức, khiến mạch máu co thắt và giữ huyết áp ở mức cao suốt đêm.

Hiện tượng "dipping" là gì và tại sao giấc ngủ lại quyết định huyết áp?

Ở người có sức khỏe bình thường, huyết áp tuân theo nhịp sinh học ngày đêm rất rõ ràng. Khi màn đêm buông xuống và cơ thể chìm vào giấc ngủ, huyết áp tâm thu thường giảm hơn 10% so với giá trị trung bình ban ngày [1]. Mức giảm tự nhiên này được y học gọi là trạng thái "dipper", một cơ chế quan trọng giúp tim và hệ thống mạch máu được nghỉ ngơi, phục hồi sau một ngày làm việc căng thẳng [1].

Nếu mức giảm huyết áp ban đêm không đạt ngưỡng 10%, người đó được xếp vào nhóm "non-dipper" (mất trũng huyết áp) [1]. Ngay khi chúng ta bắt đầu chuyển sang tư thế nằm và bước vào giai đoạn ngủ không chuyển động mắt nhanh (NREM), huyết áp đã bắt đầu giảm dần [2]. Quá trình này gắn liền với sự điều chỉnh của hệ thần kinh tự chủ, bao gồm việc hạ thấp trương lực giao cảm ở mạch máu, mở rộng lòng mạch và thiết lập lại phản xạ thụ thể áp lực trong các giai đoạn ngủ sâu [2].

Đồng thời, hoạt động giao cảm tại tim giảm xuống và hoạt động của dây thần kinh phó giao cảm tăng lên, kéo theo nhịp tim chậm lại trong suốt chu kỳ ngủ [2]. Nhờ đó, huyết áp ban đêm giảm xuống mức thấp nhất, tạo điều kiện cho các cơ quan tái tạo năng lượng [2]. Tuy nhiên, nếu chu kỳ này bị phá vỡ, cơ chế tự bảo vệ này sẽ lập tức biến mất [3].

Cơ chế: Thiếu ngủ kích hoạt hệ thần kinh giao cảm ban đêm

Hiện tượng tụt huyết áp ban đêm có mối liên hệ mật thiết với các giai đoạn ngủ sâu, đặc biệt là giai đoạn ngủ sóng chậm (slow-wave sleep) [3]. Giấc ngủ sóng chậm được xem là giai đoạn phục hồi tốt nhất cho cơ thể, vì đây là lúc hoạt động của hệ thần kinh giao cảm suy giảm mạnh nhất [3].

Khi một người bị mất ngủ, khó đi vào giấc ngủ hoặc liên tục bị thức giấc giữa đêm, hệ thống thần kinh trung ương luôn trong trạng thái cảnh giác [3]. Sự gián đoạn tính liên tục của giấc ngủ và việc giảm thời gian ngủ sóng chậm sẽ ngăn cản sự kích hoạt của hệ phó giao cảm, đồng thời làm bùng phát hoạt động của hệ thần kinh giao cảm [3]. Sự kích thích giao cảm này thúc đẩy giải phóng các chất co mạch, làm tăng kháng lực mạch máu ngoại biên và ngăn cản huyết áp hạ xuống [4].

Bên cạnh đó, việc suy giảm thời gian ngủ sâu còn được ghi nhận là yếu tố dự báo sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp mới xuất hiện [3]. Các cơ chế tiềm ẩn liên quan bao gồm sự biến đổi của mô hình trũng huyết áp, tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm, rối loạn trục dẫn truyền corticotrophin và hệ thống renin-angiotensin điều hòa thể tích tuần hoàn [3].

Các nghiên cứu nói gì về người bị mất ngủ kéo dài?

Tác động của mất ngủ lên huyết áp ban đêm đã được làm sáng tỏ qua nhiều nghiên cứu lâm sàng trên các nhóm đối tượng khác nhau.

Trong một nghiên cứu năm 2019 theo dõi hồ sơ huyết áp ban đêm ở phụ nữ trong giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh mắc chứng mất ngủ, các nhà khoa học nhận thấy huyết áp tâm thu có xu hướng giảm ban đầu trong 1 đến 3 giờ đầu sau khi tắt đèn ở cả hai nhóm có và không bị mất ngủ [2]. Tuy nhiên, ở nửa sau của giấc ngủ, huyết áp ở nhóm phụ nữ mất ngủ lại tăng ngược trở lại, trái ngược hoàn toàn với mức giảm được duy trì liên tục suốt đêm ở nhóm đối chứng khỏe mạnh [2]. Huyết áp trong giai đoạn ngủ cử động mắt nhanh (REM) cũng được ghi nhận là cao hơn so với giai đoạn ngủ NREM [2]. Hiện tượng mất trũng huyết áp này có liên quan trực tiếp đến tổn thương mạch máu, rối loạn chức năng nội mô và xơ vữa động mạch [2].

Một nghiên cứu sinh lý thần kinh năm 2018 đã tiến hành đánh giá hoạt động thần kinh giao cảm ở 12 người mắc chứng mất ngủ mạn tính (11 nữ, 1 nam) so với 12 người đối chứng ngủ tốt (8 nữ, 4 nam) [5]. Những người tham gia được đo đa ký giấc ngủ tại phòng thí nghiệm, đeo thiết bị ghi nhận cử động cổ tay trong 2 tuần tại nhà và thực hiện bài kiểm tra phản xạ áp lực lạnh [5]. Kết quả cho thấy, dù huyết áp và nhịp tim lúc nghỉ ngơi ban ngày giữa hai nhóm không khác biệt, độ nhạy phản xạ thụ thể áp lực giao cảm ở người mất ngủ đã bị suy giảm rõ rệt (-2,1 ± 1,0 so với -4,3 ± 1,3 đợt phóng điện/100 nhịp tim/mm Hg) [5]. Khi thực hiện thử nghiệm áp lực lạnh, mức độ tăng huyết áp tâm thu (21 ± 11 so với 14 ± 8 mm Hg) và phản ứng thần kinh giao cảm cơ (tăng 127% so với 52%) ở nhóm mất ngủ cao hơn hẳn so với người bình thường [5]. Điều này chứng minh người mất ngủ mạn tính luôn ở trạng thái tăng kích thích sinh lý quá mức và suy giảm khả năng điều hòa tim mạch khi gặp căng thẳng [5].

Nghiên cứu đoàn hệ Wisconsin theo dõi 502 người trong độ tuổi 30-60 đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa các chỉ số chất lượng giấc ngủ với hiện tượng mất trũng huyết áp (cả tâm thu và tâm trương) [6]. Phân tích theo thời gian cho thấy thời gian thức giấc sau khi bắt đầu ngủ kéo dài hơn, tổng thời gian ngủ ngắn hơn và hiệu quả giấc ngủ thấp hơn đều làm tăng nguy cơ mất trũng huyết áp tâm thu [6]. Trước đó, một nghiên cứu nhỏ khác trên 13 bệnh nhân trung niên mất ngủ nguyên phát mạn tính (độ tuổi trung bình 42 ± 7 tuổi) so với 13 người đối chứng cũng ghi nhận huyết áp tâm thu ban đêm cao hơn và giảm mức trũng huyết áp rõ rệt [6].

Tuy vậy, một nghiên cứu năm 2020 trên nhóm nam giới lớn tuổi người Thụy Điển lại không tìm thấy sự khác biệt về trũng huyết áp tâm thu giữa người có và không có triệu chứng mất ngủ [6]. Sự khác biệt này được giải thích là do cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ, yếu tố giới tính thuần túy nam giới, tuổi tác cao và việc sử dụng bảng tự báo cáo giấc ngủ thay vì đo lường khách quan [6]. Dù vậy, nghiên cứu này ghi nhận chứng khó vào giấc ngủ và thức giấc sớm có liên quan đến mất trũng huyết áp tâm trương, có thể bắt nguồn từ việc kích hoạt giao cảm ban đêm và thói quen thay đổi tư thế liên tục từ nằm sang ngồi dậy do không ngủ được [6].

Tác động cộng hưởng ở người ngưng thở khi ngủ và bệnh mạn tính

Tình trạng rối loạn giấc ngủ không chỉ dừng lại ở mất ngủ đơn thuần mà còn thể hiện rất nặng nề ở hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA).

Các đợt tắc nghẽn đường thở lặp đi lặp lại dẫn đến thiếu oxy máu và tăng thán khí, kích thích mạnh mẽ trương lực thần kinh giao cảm [4]. Hậu quả là mạch máu bị co thắt dữ dội và huyết áp tăng vọt ngay trong đêm [4]. Ngay cả tình trạng ngưng thở khi ngủ mức độ nhẹ cũng có thể làm tăng huyết áp ban đêm qua các cơ chế thiếu oxy mô, kích hoạt giao cảm, biến đổi cơ học lồng ngực và phá vỡ cấu trúc giấc ngủ thông thường [4].

Theo các dữ liệu tổng quan năm 2011, tỷ lệ mất trũng huyết áp ban đêm ở bệnh nhân ngưng thở khi ngủ lên tới 70% (ghi nhận ở 28 trên 40 bệnh nhân), xuất hiện ngay cả ở những người có huyết áp ban ngày hoàn toàn bình thường [7]. Tác động này hoàn toàn độc lập với mức độ hoạt động thể chất hay tình trạng béo phì [7]. Sự kích hoạt giao cảm đo lường qua nồng độ norepinephrine trong nước tiểu ban ngày có mối tương quan mật thiết với huyết áp ban đêm và sự biến thiên huyết áp ban ngày [7].

Hiện tượng mất trũng huyết áp cũng rất phổ biến ở các bệnh lý mạn tính khác. Ở 50 bệnh nhân suy tim có triệu chứng, có tới 78% bệnh nhân được ghi nhận là non-dipper [7]. Ở bệnh nhân tăng huyết áp phải chạy thận nhân tạo, sự kích hoạt giao cảm diễn ra rất mạnh mẽ đến mức việc rút bớt dịch khô dù hạ được huyết áp trong vòng 1 tháng nhưng vẫn không thể khôi phục lại trũng huyết áp sinh lý [7].

Tại Sri Lanka, một nghiên cứu năm 2019 trên nam giới mắc đái tháo đường type 2 kèm tăng huyết áp và rối loạn cương dương phát hiện có đến 72,4% người tham gia bị mất trũng huyết áp tâm thu trong đêm [1]. Tình trạng này phản ánh sự phối hợp tai hại giữa hoạt động thần kinh giao cảm tăng cao và hoạt động phó giao cảm suy giảm ở các bệnh nhân chuyển hóa [1].

Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện nay

Các nghiên cứu đã chứng minh rõ vai trò của hệ thần kinh tự chủ trong việc điều hòa huyết áp theo chu kỳ ngày đêm. Việc phát hiện sớm hiện tượng mất trũng huyết áp mang lại giá trị tiên lượng to lớn đối với nguy cơ tổn thương cơ quan đích và các biến cố tim mạch trong tương lai [2], [1].

Tuy nhiên, các bằng chứng hiện có vẫn tồn tại những giới hạn nhất định. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học về giấc ngủ mang tính quan sát cắt ngang nên chưa thể khẳng định hoàn toàn mối quan hệ nhân quả tuyệt đối giữa mất ngủ và sự biến đổi huyết áp [6]. Bên cạnh đó, ý nghĩa lâm sàng chính xác của việc huyết áp ngừng giảm vào nửa sau đêm ở người mất ngủ vẫn cần thêm các nghiên cứu dài hạn để làm rõ mối liên hệ trực tiếp với các dấu ấn sinh học tim mạch [2].

Ngoài ra, giới y khoa hiện nay vẫn đang tranh luận về việc liệu tình trạng mất trũng huyết áp (non-dipping) hay tình trạng tăng huyết áp ban đêm thực sự (nocturnal hypertension) mới là yếu tố dự báo biến cố tim mạch chuẩn xác hơn [8]. Một số dữ liệu gần đây cho thấy việc điều chỉnh huyết áp ban đêm thông qua liệu pháp thời gian (uống thuốc hạ áp vào buổi tối) chưa được chứng minh dứt khoát là mang lại lợi ích tim mạch dài hạn vượt trội [8]. Do đó, người bệnh không nên tự ý thay đổi giờ uống thuốc mà cần có chỉ định chuyên khoa.

Hiểu lầm thường gặp về huyết áp ban đêm và giấc ngủ

Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần chỉ số đo huyết áp tại nhà hoặc phòng khám vào ban ngày đạt mức chuẩn (dưới 120/80 mm Hg) thì hệ tim mạch hoàn toàn khỏe mạnh. Đây là một quan niệm sai lầm phổ biến, bởi phương pháp đo ngắt quãng ban ngày hoàn toàn bỏ sót tình trạng tăng huyết áp ẩn giấu hoặc mất trũng huyết áp trong đêm [1]. Máy theo dõi huyết áp liên tục 24 giờ (ABPM) mới là tiêu chuẩn giúp phát hiện chính xác hiện tượng này [1].

Một hiểu lầm khác là cho rằng chỉ cần nằm trên giường đủ 8 tiếng thì tim mạch sẽ được bảo vệ. Thực tế, thời gian ngủ không đồng nghĩa với chất lượng giấc ngủ. Nếu giấc ngủ nông, bị ngắt quãng liên tục hoặc giảm tỷ lệ ngủ sâu sóng chậm, trương lực giao cảm vẫn duy trì ở mức cao và huyết áp ban đêm vẫn không thể hạ xuống mức sinh lý an toàn [3], [6].

Nhóm đối tượng nào cần đặc biệt thận trọng?

Những người thường xuyên gặp tình trạng khó đi vào giấc ngủ, hay thức giấc giữa đêm hoặc tỉnh dậy quá sớm cần chủ động theo dõi huyết áp [6]. Phụ nữ trong giai đoạn chuyển tiếp mãn kinh mắc chứng mất ngủ cũng là nhóm có nguy cơ cao bị biến đổi huyết áp trong đêm [2].

Những người có triệu chứng ngáy to, hay nghẹt thở hoặc ngưng thở khi ngủ cần được thăm khám chuyên khoa hô hấp sớm, bởi điều trị ngưng thở khi ngủ hiệu quả có thể giúp cải thiện bất thường thần kinh thể dịch và kiểm soát huyết áp tốt hơn [4]. Người mắc các bệnh nền mạn tính như đái tháo đường type 2, bệnh nhân suy tim, bệnh thận hoặc nam giới bị rối loạn cương dương cần được bác sĩ đánh giá toàn diện huyết áp 24 giờ để tránh bỏ sót tổn thương cơ quan đích [7], [1].

Lời khuyên áp dụng thực tế giúp ổn định huyết áp ban đêm

Để hỗ trợ đưa huyết áp ban đêm về trạng thái trũng sinh lý, việc tái thiết lập nhịp thức - ngủ tự nhiên là ưu tiên hàng đầu. Người bệnh nên duy trì một khung giờ đi ngủ và thức dậy cố định mỗi ngày, kể cả dịp cuối tuần, nhằm huấn luyện nhịp sinh học của hệ thần kinh tự chủ.

Phòng ngủ cần được giữ tối hoàn toàn, yên tĩnh và thoáng mát để tạo điều kiện thuận lợi cho não bộ bước vào giai đoạn ngủ sâu sóng chậm [3]. Cần hạn chế sử dụng thiết bị điện tử, điện thoại thông minh ít nhất 1 giờ trước khi ngủ, vì ánh sáng xanh gây ức chế sản sinh melatonin và làm gia tăng trạng thái kích thích vỏ não.

Tránh tiêu thụ các chất kích thích chứa caffeine, trà đậm đặc hoặc rượu bia vào buổi chiều muộn và buổi tối, bởi chúng trực tiếp kích hoạt hệ thần kinh giao cảm và làm giấc ngủ bị phân mảnh. Đối với người có cơ địa nhạy cảm với muối, chế độ ăn giảm muối có thể hỗ trợ khôi phục mô hình trũng huyết áp tự nhiên [7]. Nếu trằn trọc không ngủ được, không nên liên tục ngồi dậy rồi nằm xuống nhiều lần trên giường gây biến đổi tư thế đột ngột, mà nên nằm thư giãn, thả lỏng hơi thở sâu [6].

Giấc ngủ chất lượng không chỉ đem lại tinh thần sảng khoái mà còn là tấm lá chắn bảo vệ hệ tim mạch suốt đêm dài. Khi gặp tình trạng mất ngủ kéo dài kèm theo các dấu hiệu mệt mỏi, đau đầu vào buổi sáng, người bệnh nên đến các cơ sở y tế để được thăm khám và tư vấn giải pháp điều trị phù hợp, tuyệt đối không tự ý dùng các loại thuốc an thần hoặc thuốc hạ áp mà không có chỉ định từ bác sĩ.