Nhiều phụ nữ khi mang thai, đặc biệt là những người có tiền sử gia đình bị dị ứng, thường được khuyên nên kiêng hoàn toàn các món dễ gây kích ứng như lạc (đậu phộng), các loại hạt, tôm, cua, cá biển hoặc trứng. Nỗi lo lắng này bắt nguồn từ quan niệm cho rằng các phân tử dị nguyên từ thức ăn của mẹ có thể truyền qua thai nhi và khiến đứa trẻ sinh ra mang cơ địa dị ứng suốt đời.

Tuy nhiên, các nghiên cứu y khoa và hướng dẫn lâm sàng hiện đại đã bác bỏ hoàn toàn quan niệm này. Việc mẹ bầu chủ động loại bỏ các thực phẩm giàu dinh dưỡng như lạc hay hải sản không mang lại lợi ích bảo vệ trẻ khỏi dị ứng thức ăn, ngược lại còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sức khỏe của cả hai mẹ con.

Quan niệm sai lầm về việc "ăn kiêng để ngừa dị ứng"

Trước đây, từng có giả thuyết cho rằng việc người mẹ mang thai kiêng ăn các thực phẩm có tính dị ứng cao như sữa, trứng, lạc, hạt cây, lúa mì, đậu nành và hải sản có thể đóng vai trò như biện pháp dự phòng tiên phát giúp trẻ sơ sinh có nguy cơ cao không bị dị ứng thực phẩm [1]. Từng có một nghiên cứu gợi ý rằng chế độ ăn không có lạc, các loại hạt, cá, trứng và hạt vừng trong 3 tháng cuối thai kỳ ở phụ nữ thuộc gia đình có nguy cơ cao đem lại tác dụng bảo vệ cho trẻ, nhưng giả thuyết này đã bị các nghiên cứu sau đó bác bỏ [1].

Các tổng quan hệ thống phân tích dữ liệu về việc loại bỏ các nhóm thức ăn dễ gây dị ứng phổ biến ở thai phụ, đặc biệt là sữa, trứng và lạc, ghi nhận nhiều kết quả mâu thuẫn giữa các nghiên cứu [1]. Dù đã có nhiều thử nghiệm can thiệp điều chỉnh chế độ ăn của bà mẹ, hiệu quả của việc thay đổi chế độ dinh dưỡng khi mang thai và cho con bú trong việc ngăn ngừa dị ứng thức ăn ở trẻ nhỏ vẫn chưa rõ ràng [2].

Dữ liệu y khoa gần đây lại chỉ ra hướng ngược lại: việc người mẹ tiếp xúc qua đường miệng với các dị nguyên thực phẩm trong thời kỳ mang thai có thể thúc đẩy sự dung nạp đối với các kháng nguyên này ở đứa con [1]. Khi mẹ ăn đa dạng, cơ thể tạo điều kiện để hệ miễn dịch non nớt của thai nhi làm quen với kháng nguyên từ sớm, thay vì phản ứng quá mức sau khi chào đời [1].

Bằng chứng khoa học: Các nghiên cứu nói gì?

Một tổng quan hệ thống của Cochrane về việc mẹ bầu tránh dị nguyên thực phẩm trong thai kỳ cho thấy biện pháp này hoàn toàn không có tác dụng bảo vệ trẻ khỏi viêm da cơ địa hay hen suyễn trong 18 tháng đầu đời [1]. Tác động của việc kiêng khem đối với nguy cơ viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc và nổi mề đay ở trẻ cũng không thể đưa ra kết luận rõ ràng [1]. Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng việc hạn chế ăn uống khi mang thai gây ra những tác động tiêu cực đến tình trạng dinh dưỡng của người mẹ và gián tiếp ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thai nhi [1].

Không có chế độ ăn kiêng đặc biệt nào của người mẹ được chứng minh là có hiệu quả trong việc dự phòng tiên phát dị ứng ở trẻ nhỏ [1]. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc loại trừ các dị nguyên thực phẩm trong thai kỳ không làm giảm nguy cơ phát triển dị ứng thức ăn ở con [3]. Vì thế, các hướng dẫn lâm sàng quốc tế hiện nay đồng thuận không khuyến nghị thai phụ áp dụng chế độ ăn kiêng loại trừ, bởi điều này có thể dẫn đến suy giảm lượng dinh dưỡng thiết yếu và tổn hại sức khỏe tổng thể của mẹ lẫn con [3].

Các đánh giá tổng hợp về thực hành dự phòng dị ứng thức ăn năm 2023 cũng tái khẳng định phụ nữ mang thai và đang cho con bú không nên loại trừ bất kỳ dị nguyên thực phẩm nào khỏi khẩu phần ăn [4]. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng lưu ý rằng hiện vẫn thiếu dữ liệu khoa học chứng minh việc cố tình tăng cường ăn thật nhiều dị nguyên lại có tác dụng chủ động phòng bệnh [4]. Mẹ bầu nên duy trì mức ăn uống bình thường, đa dạng thay vì kiêng khem hoặc bổ sung cực đoan [4].

Nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng khi mẹ kiêng khem quá mức

Lạc và các loại hạt cung cấp nguồn chất béo lành mạnh, protein thực vật và nhiều khoáng chất quan trọng. Hải sản, đặc biệt là cá biển, lại là nguồn cung cấp dồi dào i-ốt, kẽm, sắt và protein chất lượng cao cần thiết cho sự phát triển của thai nhi. Việc tự ý cắt giảm hoàn toàn các nhóm thực phẩm này mà không có chỉ định y tế dễ khiến người mẹ bị mất cân bằng dinh dưỡng trong giai đoạn nhạy cảm nhất của thai kỳ [1, 3].

Bên cạnh đó, việc bổ sung các vi chất hay chất bổ trợ đơn lẻ cũng không phải là phương pháp thay thế hoàn hảo. Các nghiên cứu về men vi sinh (probiotics) và prebiotic dùng trong thai kỳ như một biện pháp ngăn ngừa tuy có nhiều hứa hẹn nhưng bằng chứng vẫn còn hạn chế, khiến các hướng dẫn y khoa chưa thể đưa ra khuyến cáo cụ thể [3, 5]. Tương tự, dữ liệu về việc mẹ bầu bổ sung các loại vitamin, axit béo omega-3 hoặc các chất chống oxy hóa để ngừa dị ứng cho con cũng chưa có bằng chứng thuyết phục để đưa ra kết luận chắc chắn [2, 3]. Việc nạp từng chất dinh dưỡng riêng lẻ đã thất bại trong việc ngăn ngừa bệnh dị ứng [5].

Nghiên cứu thuần tập mang tên Healthy Start tại Colorado thực hiện trên các cặp mẹ con bằng bảng câu hỏi xu hướng thực phẩm trong thai kỳ đã kiểm tra mối liên hệ giữa chế độ ăn của mẹ với các bệnh dị ứng ở trẻ đến 4 tuổi thông qua hồ sơ bệnh án điện tử [6]. Các nhà khoa học đã xây dựng một chỉ số chế độ ăn của người mẹ bao gồm rau củ, sữa chua, khoai tây chiên, gạo/ngũ cốc, thịt đỏ, nước ép trái cây nguyên chất và ngũ cốc lạnh [6].

Kết quả cho thấy rau củ và sữa chua có liên quan đến việc ngăn ngừa các bệnh dị ứng nói chung, trong khi các thành phần khác có xu hướng làm tăng nguy cơ mắc bệnh [6]. Sau khi hiệu chỉnh mô hình thống kê, việc tăng một đơn vị trong chỉ số chế độ ăn của mẹ giúp giảm có ý nghĩa nguy cơ viêm mũi dị ứng (tỷ số chênh OR 0,82 [KHOẢNG TIN CẬY 94%: 0,72-0,94]), viêm da cơ địa (OR 0,77 [0,69-0,86]), hen suyễn (OR 0,84 [0,74-0,96]) và khò khè (OR 0,80 [0,71-0,90]) ở trẻ nhỏ [6]. Tuy nhiên, chỉ số này không cho thấy mối liên hệ làm giảm dị ứng thức ăn (OR 0,84 [0,66-1,08]) [6]. Điều này cho thấy dị ứng thức ăn ở trẻ có cơ chế phức tạp hơn và việc điều chỉnh đơn thuần một vài nhóm thức ăn của mẹ không thể loại bỏ nguy cơ này [6].

Những hiểu lầm phổ biến về phòng ngừa dị ứng cho con

Hiểu lầm thường gặp nhất là việc cho rằng sữa mẹ hay sữa công thức thủy phân có thể ngăn ngừa triệt để dị ứng thức ăn cho bé. Mặc dù nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn được khuyến nghị rộng rãi nhờ vô vàn lợi ích sức khỏe cho mẹ và bé, nhưng các dữ liệu y khoa xác nhận việc bú mẹ không có mối liên quan cụ thể nào tới việc giảm nguy cơ dị ứng thực phẩm ở trẻ [2, 8]. Tương tự, hiện không có bằng chứng vững chắc hay khuyến cáo y khoa nào ủng hộ việc sử dụng sữa công thức thủy phân một phần hay toàn phần nhằm mục đích dự phòng tiên phát dị ứng thức ăn [2, 8].

Thay vì kiêng khem trong thai kỳ, các nghiên cứu can thiệp gần đây chỉ ra rằng chiến lược hữu hiệu nhất để phòng ngừa dị ứng thức ăn là chủ động cho trẻ ăn các thực phẩm có tính dị ứng cao đúng thời điểm khi trẻ bắt đầu ăn dặm [2, 8]. Các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng đã chứng minh rằng việc cho trẻ ăn lạc và trứng sớm vào chế độ ăn dặm trong năm đầu đời, cụ thể khoảng từ 4 đến 6 tháng tuổi, giúp giảm rõ rệt nguy cơ dị ứng các món này ở những trẻ có cơ địa nguy cơ cao [2, 6].

Cha mẹ không cần trì hoãn việc giới thiệu các loại thực phẩm dị nguyên khác vào thực đơn dặm của con [4]. Trẻ nhỏ nên được làm quen với các món ăn chung của gia đình trước 1 tuổi theo thói quen ăn uống và văn hóa ẩm thực địa phương [2, 8]. Ngược lại, việc tiêu thụ thực phẩm kiểu phương Tây hay thức ăn chứa hàm lượng cao các sản phẩm glycat hóa bền vững (AGEs) cùng phụ gia nhũ hóa có thể liên quan tới việc gia tăng dị ứng [2, 7].

Ai mới là người thực sự cần kiêng khem?

Việc kiêng khem các dị nguyên phổ biến không được khuyến khích áp dụng đại trà cho thai phụ, ngay cả khi đứa trẻ sinh ra được xếp vào nhóm có nguy cơ cao do tiền sử gia đình [1, 8].

Trường hợp duy nhất người mẹ mang thai cần tránh tuyệt đối lạc, hải sản hay bất kỳ thực phẩm nào khác là khi chính bản thân người mẹ đã được chẩn đoán xác định bị dị ứng với loại thực phẩm đó [1]. Nếu ăn vào khiến mẹ xuất hiện các phản ứng dị ứng như ngứa ngáy, nổi mề đay, sưng phù, khó thở hoặc sốc phản vệ, việc kiêng ăn là bắt buộc nhằm bảo vệ an toàn tính mạng cho người mẹ.

Nếu phụ nữ mang thai có các bệnh lý nền đặc biệt, rối loạn chuyển hóa hoặc đang phải dùng thuốc điều trị mạn tính, mọi thay đổi lớn trong chế độ ăn uống hàng ngày đều cần có sự tư vấn, đánh giá kỹ lưỡng từ bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng lâm sàng, không nên tự ý áp dụng các trào lưu ăn kiêng truyền miệng.

Gợi ý áp dụng dinh dưỡng thực tế cho mẹ bầu

Chiến lược dinh dưỡng tốt nhất trong thai kỳ là duy trì một khẩu phần ăn đa dạng, lành mạnh và cân bằng [1, 7, 8]. Thay vì băn khoăn tìm cách loại trừ thực phẩm, mẹ bầu nên hướng đến việc tăng cường tính phong phú của các bữa ăn hàng ngày [5].

Sự đa dạng trong chế độ ăn của người mẹ khi mang thai có mối liên hệ với việc giảm các hệ quả dị ứng ở thời thơ ấu của trẻ [5]. Chế độ ăn tổng thể phong phú tác động tích cực đến hệ vi sinh đường ruột hơn hẳn việc dùng các thực phẩm hay dưỡng chất đơn lẻ [5]. Mẹ nên bổ sung các nguồn rau củ quả tươi, sữa chua và ngũ cốc nguyên hạt, đồng thời hạn chế các thực phẩm chế biến sẵn chiên xào nhiều dầu mỡ [4, 7].

Đối với lạc và hải sản, nếu bản thân người mẹ không bị dị ứng, có thể chế biến chín kỹ và sử dụng với lượng vừa phải trong các bữa ăn gia đình. Việc chuẩn bị thực phẩm tươi, sạch, bảo đảm an toàn vệ sinh và kết hợp hài hòa các nhóm chất đạm, chất xơ, vitamin sẽ mang lại nền tảng thể chất tốt nhất cho thai nhi [1, 7].

Tóm lại, mẹ bầu hoàn toàn không cần kiêng ăn lạc hay hải sản chỉ với hy vọng con sinh ra không bị dị ứng [1, 2, 3]. Hãy duy trì một chế độ dinh dưỡng phong phú, cân đối và chuẩn bị kế hoạch cho bé ăn dặm đúng cách, bởi một chế độ ăn uống khoa học của người mẹ chính là món quà tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của trẻ [1, 8].