Ngủ trưa là thói quen phổ biến ở người cao tuổi, với tỷ lệ thực hiện lên tới 68,6% trong cộng đồng [1]. Nhiều gia đình tin người già ngủ trưa càng sâu và lâu càng tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, việc ông bà ngủ trưa kéo dài hàng tiếng đồng hồ mỗi ngày khiến không ít con cháu băn khoăn liệu đây là nhu cầu nghỉ ngơi tự nhiên hay dấu hiệu cảnh báo bệnh lý.

Câu trả lời ngắn gọn từ các dữ liệu khoa học là có: ngủ trưa từ 60 phút trở lên mỗi ngày ở người lớn tuổi có mối liên hệ chặt chẽ với nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong sớm [2], [3]. Ngược lại, những giấc ngủ trưa ngắn dưới 30 phút thường giúp phục hồi sự tỉnh táo mà không làm tăng rủi ro cho tim [1], [2]. Giấc ngủ trưa quá dài đôi khi không phải là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh, mà là tín hiệu phản ánh cơ thể đang suy yếu hoặc có rối loạn giấc ngủ tiềm ẩn [4].

Cơ chế tác động lên hệ tim mạch

Hoạt động ngủ và thức vào ban ngày tác động trực tiếp đến hệ thần kinh tự chủ và huyết áp. Ở người trưởng thành trẻ tuổi khỏe mạnh, một nghiên cứu năm 2017 ghi nhận giấc ngủ ban ngày giúp kéo dài khoảng RR (khoảng thời gian giữa hai nhịp đập của tim) và tăng hoạt động của dây thần kinh phế vị [5]. Trạng thái này tạo ra sự "yên tĩnh" cho hệ tim mạch, tương tự một "kỳ nghỉ tim mạch" giống như giấc ngủ ban đêm [5]. Ngoài ra, giấc ngủ trưa còn giúp phục hồi nồng độ cytokine tiền viêm (như interleukin 6) và catecholamine bị biến đổi sau một đêm thiếu ngủ [5].

Tuy nhiên, cơ chế này thay đổi đáng kể ở người cao tuổi hoặc khi giấc ngủ kéo dài [4], [5]. Một nghiên cứu năm 2010 chỉ ra rằng khi thức dậy sau giấc ngủ trưa, huyết áp và nhịp tim có thể tăng vọt đột ngột [4]. Hiện tượng này rất giống với giai đoạn ngay sau khi thức giấc vào buổi sáng — thời điểm các biến cố tim mạch cấp tính thường khởi phát ở mức cao [4].

Bên cạnh biến động huyết áp, cơn buồn ngủ ban ngày thường xuất hiện phổ biến ở người có rối loạn giấc ngủ nguyên phát như rối loạn nhịp thở khi ngủ (SDB), rối loạn tâm thần kinh hoặc bệnh nền tim mạch [4]. Nguy cơ tử vong tim mạch tăng cao ở người ngủ trưa hằng ngày có thể bắt nguồn một phần từ chứng rối loạn nhịp thở khi ngủ này [4]. Giấc ngủ kéo dài trong ngày cũng có thể là dấu hiệu chỉ báo tình trạng suy yếu thể chất, sức khỏe kém, trầm cảm hoặc làm gián đoạn giấc ngủ ban đêm [4], [5].

Bằng chứng từ các nghiên cứu theo dõi dài hạn

Nhiều công trình quy mô lớn đã theo dõi hàng chục nghìn người trong nhiều năm để làm rõ mối liên hệ này. Một nghiên cứu công bố năm 2010 tại Nhật Bản đã khảo sát 67.129 người từ 40 đến 79 tuổi (gồm 27.755 nam và 39.374 nữ) không có tiền sử đột quỵ, bệnh tim hoặc ung thư trong giai đoạn 1988-1990 [6]. Nhóm này được theo dõi đến hết năm 2003, tương đương 879.244 người-năm, và ghi nhận tổng cộng 9.643 ca tử vong, trong đó có 2.852 ca do bệnh tim mạch [6]. Kết quả cho thấy người có thói quen ngủ trưa tăng 19% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân và tăng 31% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch so với người không ngủ trưa [6]. Đáng chú ý, rủi ro tử vong tim mạch này biểu hiện rõ rệt hơn ở người bị sụt cân sau tuổi 20, người lao động không thường xuyên hoặc trình độ học vấn thấp, nhưng lại giảm đi ở người thừa cân [6].

Ở nhóm người có bệnh nền chuyển hóa, rủi ro càng rõ ràng hơn. Một nghiên cứu năm 2025 sử dụng dữ liệu từ ngân hàng sinh học UK Biobank trên 21.129 người mắc đái tháo đường týp 2 (chưa có biến cố tim mạch lớn và ung thư ở thời điểm ban đầu) với thời gian theo dõi trung bình 11,9 năm [7]. Trong thời gian này, có 5.611 ca gặp biến cố tim mạch nghiêm trọng (MACE), 3.854 ca tử vong do mọi nguyên nhân và 1.839 ca tử vong do bệnh tim mạch [7]. So với người không hoặc hiếm khi ngủ trưa, người thường xuyên ngủ trưa có nguy cơ gặp biến cố tim mạch nghiêm trọng cao hơn 39%, nhồi máu cơ tim cao hơn 44%, suy tim cao hơn 33%, đột quỵ cao hơn 57% và tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn 28% [7]. Nguy cơ này đặc biệt cao ở người có tổng thời gian ngủ trên 10 giờ và đái tháo đường mức độ nặng [7].

Thời lượng 60 phút và đường cong chữ J

Không phải mọi giấc ngủ trưa đều mang lại rủi ro giống nhau, mà thời lượng ngủ đóng vai trò quyết định. Một phân tích gộp năm 2015 tổng hợp 11 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên 151.588 người (60% là phụ nữ), theo dõi trung bình 11 năm với 5.276 biến cố tim mạch và 18.966 ca tử vong [3]. Kết quả chỉ ra người ngủ trưa từ 60 phút trở lên mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp 1,82 lần và nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân cao gấp 1,27 lần so với người không ngủ trưa [3]. Ngược lại, ngủ trưa dưới 60 phút mỗi ngày không làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch hay tử vong [3].

Phân tích này cũng phát hiện mối quan hệ liều lượng - đáp ứng theo hình chữ J giữa thời gian ngủ trưa và bệnh tim mạch [3]. Cụ thể, nguy cơ mắc bệnh tim mạch ban đầu giảm xuống khi thời gian ngủ trưa kéo dài từ 0 đến 30 phút mỗi ngày [3]. Sau đó, nguy cơ tăng nhẹ ở mốc khoảng 45 phút mỗi ngày, rồi tăng vọt ở những giấc ngủ trưa dài hơn [3]. Đối với tử vong do mọi nguyên nhân, nguy cơ tăng tuyến tính thuận chiều với thời gian ngủ trưa [3].

Hai phân tích gộp khác công bố năm 2015 cũng củng cố nhận định về ngưỡng 60 phút nhưng cho thấy sự phức tạp khi đánh giá tử vong tim mạch riêng lẻ [1], [8]. Phân tích trên 7 nghiên cứu với 98.163 người cho thấy ngủ trưa làm tăng 15% nguy cơ tử vong chung; trong đó nhóm ngủ trên 60 phút tăng rõ rệt 15% nguy cơ, còn nhóm ngủ dưới 60 phút không có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê [1]. Một phân tích khác trên 12 nghiên cứu với 130.068 người (gồm 49.791 người ngủ trưa và 19.059 ca tử vong) ghi nhận ngủ trưa làm tăng 22% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, nhưng chưa thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với tử vong do bệnh tim mạch hoặc ung thư [8].

Sự khác biệt theo độ tuổi và giới hạn bằng chứng

Tác động của giấc ngủ trưa có sự phân hóa rõ rệt giữa người trẻ và người cao tuổi. Một tổng quan hệ thống năm 2022 phân tích 11 bài báo tổng quan và 97 nghiên cứu cho thấy ngủ trưa dài (từ 1 giờ mỗi ngày trở lên) liên quan đến tỷ lệ cao hơn mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch, bệnh tim mạch và tử vong [2]. Ở người trưởng thành trẻ và trung niên, ngủ trưa dưới 30 phút mỗi ngày không làm tăng các yếu tố nguy cơ hay bệnh tim mạch [2]. Thậm chí ở người trẻ đang đi làm, ngủ trưa có thể là thói quen giải tỏa căng thẳng giúp giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh mạch vành [4].

Tuy nhiên, lợi ích này không còn giữ nguyên ở người già [4]. Tổng quan năm 2022 chỉ ra rằng ở người trên 60 tuổi, mối liên hệ tăng nguy cơ đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, hội chứng chuyển hóa và tử vong xuất hiện tăng dần theo thời gian ngủ trưa tính ngay từ mốc 0 phút mỗi ngày [2]. Ở phụ nữ lớn tuổi, những người ngủ trưa ít hơn 3 giờ mỗi tuần không bị tăng nguy cơ tử vong so với người không ngủ, cho thấy các giấc ngủ ngắn và ít thường xuyên an toàn hơn giấc ngủ dài mỗi ngày [4].

Dù vậy, các nhà khoa học lưu ý những giới hạn quan trọng của bằng chứng hiện tại. Phần lớn các phân tích gộp dựa trên mức độ bằng chứng yếu hoặc mang tính gợi ý [2]. Nhiều nghiên cứu thu thập dữ liệu qua bảng câu hỏi tự báo cáo của người tham gia nên dễ có sai số [6], [1], [7]. Hơn nữa, khó tách biệt rạch ròi liệu rủi ro đến từ bản thân giấc ngủ trưa hay do các bệnh lý đi kèm gây sụt cân, suy nhược cơ thể và rối loạn giấc ngủ ban đêm [6], [4], [1].

Ai nên thận trọng với giấc ngủ trưa dài?

Từ dữ liệu nghiên cứu, người cao tuổi trên 60 tuổi là nhóm đầu tiên cần theo dõi sát thói quen ngủ trưa [2]. Nếu thời gian ngủ trưa thường xuyên vượt quá 60 phút mỗi ngày, đây có thể là dấu hiệu cần kiểm tra sức khỏe tổng quát [2], [3].

Nhóm thứ hai cần đặc biệt lưu ý là người mắc bệnh đái tháo đường týp 2, nhất là người bệnh nặng hoặc có tổng thời gian ngủ trong ngày kéo dài trên 10 giờ [7]. Thói quen ngủ trưa thường xuyên ở nhóm này gắn liền với nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim và đột quỵ cao hơn rõ rệt [7].

Ngoài ra, những người lớn tuổi có kèm tình trạng sụt cân không rõ nguyên nhân, người có biểu hiện trầm cảm, thường xuyên thức giấc ban đêm hoặc nghi ngờ mắc chứng rối loạn nhịp thở khi ngủ (như ngáy to, ngưng thở khi ngủ) không nên xem thường cơn buồn ngủ rũ rượi vào ban ngày [6], [4], [5]. Khi có bệnh nền tim mạch hoặc chuyển hóa và đang dùng thuốc điều trị, người bệnh nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ về sự thay đổi trong thói quen giấc ngủ.

Cách thiết lập giấc ngủ trưa an toàn

Để tận dụng khả năng phục hồi sự tỉnh táo mà không gây áp lực lên hệ tim mạch, thời lượng ngủ trưa lý tưởng nên giới hạn dưới 30 phút vào buổi chiều [1], [2], [3]. Mốc thời gian từ 0 đến 30 phút là khoảng an toàn giúp cải thiện hiệu suất hoạt động và gắn với mức rủi ro tim mạch thấp trên đường cong chữ J [1], [3]. Người lớn tuổi nên tránh để giấc ngủ trưa kéo dài từ 45 đến 60 phút trở lên [3].

Về tần suất, người cao tuổi không bắt buộc phải ngủ trưa mỗi ngày nếu cơ thể không có nhu cầu; việc nghỉ ngơi ngắn với tổng thời gian dưới 3 giờ mỗi tuần ở phụ nữ lớn tuổi được ghi nhận là không làm tăng nguy cơ tử vong [4]. Khi thức dậy sau giấc ngủ trưa, người già nên nằm lại trên giường vài phút rồi ngồi dậy từ từ để tránh hiện tượng huyết áp và nhịp tim tăng đột ngột [4].

Song song với việc điều chỉnh giấc ngủ trưa, cần duy trì chất lượng giấc ngủ ban đêm ổn định, kết hợp chế độ dinh dưỡng cân bằng và vận động thể lực vừa sức. Nếu người cao tuổi bỗng nhiên ngủ trưa nhiều bất thường kèm mệt mỏi, gia đình nên đưa đi khám để tầm soát các rối loạn giấc ngủ có thể điều trị được như chứng ngưng thở khi ngủ hoặc kiểm tra sức khỏe tim mạch [4].

Tóm lại, ngủ trưa quá 60 phút mỗi ngày ở người cao tuổi là một tín hiệu sức khỏe đáng lưu tâm, có liên hệ mật thiết với nguy cơ bệnh tim mạch và rối loạn chuyển hóa [2], [3]. Thay vì ngủ li bì nhiều giờ vào buổi trưa, một giấc chợp mắt ngắn dưới 30 phút và ngồi dậy chậm rãi khi thức giấc sẽ giúp người già bảo vệ trái tim an toàn hơn [4], [1], [3].