Nhiều gia đình thường để sẵn bình nước ấm trên bàn cho ông bà nhưng đến tối bình vẫn còn nguyên. Người lớn tuổi hay giải thích rằng họ không thấy khát nên không uống, hoặc sợ uống nhiều phải đi tiểu đêm mất ngủ. Vậy người cao tuổi thực sự cần bao nhiêu nước mỗi ngày và việc chờ khát mới uống có an toàn?

Nhu cầu chất lỏng ở người lớn tuổi thay đổi tùy theo thể trạng, mức vận động, nhiệt độ môi trường, chức năng thận và thuốc đang dùng [1]. Theo ước tính lâm sàng, người cao tuổi nặng từ 50 đến 80 kg cần tối thiểu 1.500 ml chất lỏng mỗi ngày (hoặc tính theo công thức 1 ml chất lỏng cho mỗi calo tiêu thụ) để bù đắp lượng nước mất qua nước tiểu, phân, hơi thở và mồ hôi [1]. Một số mốc tham chiếu khác đặt ngưỡng tổng lượng nước hằng ngày từ 1.700 g đến 2.500 ml tùy quần thể nghiên cứu [2][3][4]. Điều quan trọng là tuổi tác làm suy giảm cảm giác khát và chức năng thận, khiến cơ thể dễ rơi vào mất nước tiềm ẩn ngay cả khi người già không hề thấy khát [1][3].

Vì sao người già dễ mất nước dù không thấy khát?

Cơ chế điều hòa nội môi của cơ thể suy giảm tự nhiên theo tuổi tác, đặc biệt là sự suy yếu của chức năng thận và mất cảm giác khát [1][3]. Khi còn trẻ, thiếu nước nhẹ sẽ kích hoạt tín hiệu khát mạnh mẽ, nhưng ở người già, hệ thống báo động này hoạt động kém nhạy bén hơn [1]. Hệ quả là cơ thể đã thiếu dịch nhưng não chưa phát tín hiệu đòi uống nước [1].

Mất cân bằng dịch và điện giải do những thay đổi sinh lý tuổi già có liên quan mật thiết đến việc gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở người cao tuổi [5]. Tình trạng mất nước có thể dẫn đến rối loạn nhận thức và tâm thần như mê sảng [6]. Nó cũng làm tăng nguy cơ biến chứng huyết khối tắc mạch, nhiễm trùng bàng quang, nhiễm trùng đường hô hấp, sỏi thận, sốt, táo bón, tụt huyết áp và ngộ độc thuốc [6].

Tùy thuộc vào định nghĩa lâm sàng được sử dụng, có từ 6% đến 30% người từ 65 tuổi trở lên khi nhập viện đang trong tình trạng mất nước [6]. Trong 1,5% các ca nhập viện này, mất nước là nguyên nhân chính trực tiếp dẫn đến việc phải vào viện [6]. Ngay cả ở những bệnh nhân đang hồi phục bệnh tại nhà, việc bỏ qua quản lý năng lượng và bổ sung dịch phù hợp cũng làm chậm quá trình bình phục và dẫn đến tái nhập viện [5].

Các nghiên cứu tại cộng đồng nói gì về lượng nước uống của người già?

Một nghiên cứu cắt ngang đại diện toàn quốc tại Đức công bố năm 2005 đã khảo sát những người cao tuổi sống độc lập tại cộng đồng [3]. Từ mẫu ngẫu nhiên 4.020 người chia làm ba nhóm tuổi (65-74 tuổi, 75-84 tuổi và từ 85 tuổi trở lên), có 1.372 người đã hoàn thành nhật ký ăn uống chuẩn hóa trong 3 ngày [3]. Lượng chất lỏng từ đồ uống và thức ăn được tính toán dựa trên cơ sở dữ liệu dinh dưỡng quốc gia BLS II.2 của Đức [3].

Kết quả cho thấy lượng đồ uống tiêu thụ trung vị hằng ngày đạt 1.567 ml ở nam giới (khoảng phân vị thứ 5 đến 95 là 700 đến 2.967 ml) và 1.400 ml ở nữ giới (khoảng phân vị 600 đến 2.467 ml), đạt mức khuyến nghị đồ uống tại Đức là 1.310 ml mỗi ngày [3]. Tổng lượng nước tiêu thụ trung vị tính cả trong thức ăn đạt 2.387 ml ở nam và 2.224 ml ở nữ, cao hơn mức tham chiếu tổng nước là 1.990 ml mỗi ngày [3]. Tuy nhiên, lượng đồ uống giảm dần khi tuổi càng cao ở cả hai giới [3]. Tỷ lệ không đạt mức tham chiếu đồ uống tăng dần theo ba nhóm tuổi, lần lượt là 33%, 44% và 51% [3]. Tính chung cả nước từ thức ăn, có một phần ba số người tham gia (gồm 28% nhóm cao tuổi trẻ nhất và 41% nhóm từ 85 tuổi trở lên) không đạt mức khuyến nghị [3].

Một nghiên cứu khác công bố năm 1997 thuộc dự án SENECA (thu thập dữ liệu năm 1993) đã đánh giá lượng nước tiêu thụ của 629 nam giới và 696 phụ nữ cao tuổi (sinh giai đoạn 1913-1918) sống tại các thị trấn truyền thống nhỏ ở 10 khu vực châu Âu [4]. Các nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu bằng phương pháp hỏi ghi lịch sử chế độ ăn [4]. Kết quả ghi nhận một tỷ lệ cao phụ nữ có lượng nước tiêu thụ thấp hơn ngưỡng cắt 1.700 g mỗi ngày [4].

Tại hầu hết các thị trấn trong nghiên cứu SENECA, khoảng 70% lượng nước hằng ngày đến từ các nhóm thực phẩm gồm sản phẩm từ sữa, đồ uống có cồn, nước trái cây và đồ uống không cồn khác [4]. Trong đó, nhóm đồ uống không cồn khác đóng góp nhiều nhất vào tổng lượng dịch mỗi ngày [4]. Phụ nữ có nguy cơ mất nước cao hơn nam giới do uống ít nước hơn hẳn và do mối liên hệ chung giữa lượng nước thấp với trạng thái tinh thần kém cũng như khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày (ADL) [4]. Dù vậy, khi xét riêng từng thị trấn thì mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ này với lượng nước uống chưa đồng nhất [4].

Thực trạng đáng lo tại các cơ sở chăm sóc và viện dưỡng lão

Nếu người cao tuổi sống độc lập đa phần vẫn đạt mức bù nước cơ bản, thì nhóm sống trong các cơ sở chăm sóc lại đối mặt nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng [2][1][3]. Các nghiên cứu khảo sát bệnh nhân cao tuổi sống trong viện dưỡng lão hoặc cơ sở nội trú cho thấy lượng dịch tiêu thụ hằng ngày rất thấp, chỉ dao động từ 500 đến 1.200 ml mỗi ngày [1].

Cụ thể, một nghiên cứu công bố năm 1996 đã theo dõi trực tiếp lượng dịch tiêu thụ của 57 bệnh nhân cao tuổi cả nam và nữ tại các khoa tâm thần lão khoa, chăm sóc dài hạn và nội trú lão khoa trong ba chu kỳ 24 giờ [2]. Trong tất cả các trường hợp, bất kể khoa điều trị, mức độ phụ thuộc, tình trạng nhận thức hay khả năng tự chủ vệ sinh, bệnh nhân đều nhận được lượng dịch ít hơn đáng kể so với mức khuyến nghị từ 2.000 đến 2.500 ml mỗi ngày [2]. Những người bị suy giảm nhận thức, sống phụ thuộc và tiểu không tự chủ có lượng dịch đưa vào thấp hơn cả những bệnh nhân không có các trở ngại này [2].

Cùng trong nghiên cứu năm 1996 này, 47 điều dưỡng làm việc tại ba khoa trên đã hoàn thành bảng câu hỏi tự điền về nhu cầu dịch của người già [2]. Nhìn chung, kiến thức của điều dưỡng còn thiếu hụt ở nhiều mảng như dấu hiệu, biến chứng mất nước và nhu cầu dịch của bệnh nhân lớn tuổi [2]. Tác giả lưu ý cỡ mẫu nghiên cứu này nhỏ nên không cho phép rút ra kết luận khái quát chung, nhưng nếu kết quả này phản ánh đúng thực hành lúc đó thì mức tiêu thụ dịch quá thấp như vậy cấu thành một dạng bỏ bê chăm sóc [2].

Một thử nghiệm can thiệp công bố năm 2022 trên 20 người cao tuổi từ 60 đến 89 tuổi sống tại viện dưỡng lão đã kiểm tra tác động của việc chủ động cho uống nước lọc trong 7 ngày [7]. Người tham gia được chia ngẫu nhiên vào 4 nhóm: đủ nước đối chứng (EC), đủ nước có can thiệp (ET), mất nước đối chứng (DC) và mất nước có can thiệp (DT) [7]. Nhóm can thiệp được nhân viên trực tiếp bổ sung nước lọc, đánh giá lượng nước qua hỏi ghi thực phẩm, đo nhận thức và vận động bằng bài kiểm tra nhớ dãy số (digit span test) và gõ ngón tay (finger tapping test), đồng thời xét nghiệm máu đo yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF - một loại protein hỗ trợ sự sống và chức năng của tế bào thần kinh) [7].

Sau 7 ngày, việc bổ sung nước làm tăng gấp 2,5 lần lượng nước lọc và tổng lượng chất lỏng tiêu thụ ở cả hai nhóm ET và DT so với trước đó, tạo khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng [7]. Nồng độ BDNF trong huyết thanh trước can thiệp ở nhóm mất nước cao hơn nhóm đủ nước và có tương quan nghịch với thể tích nước cũng như tổng dịch tiêu thụ [7]. Khi được bù nước thích hợp sau 7 ngày, nồng độ BDNF đã quay trở về mức sinh lý bình thường [7].

Ngoài ra, một đề cương thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng công bố năm 2015 cũng được thiết kế để tìm giải pháp cho người từ 80 tuổi trở lên hoặc người từ 65 tuổi trở lên mắc bệnh tim mạch sống độc lập có lượng nước uống không đủ [6]. Nghiên cứu này so sánh hai nhóm: một nhóm chỉ nhận can thiệp giáo dục sức khỏe và một nhóm kết hợp giáo dục với thiết bị nhắc uống nước, theo dõi qua bảng hỏi tại thời điểm ban đầu, sau 6 tuần và sau 6 tháng [6]. Vì đây là bài công bố đề cương thiết kế nghiên cứu nên chưa có số liệu kết quả đầu ra [6].

Những hiểu lầm thường gặp về chuyện uống nước ở tuổi già

Hiểu lầm phổ biến nhất là chỉ tính nước lọc mới là bù nước. Thực tế, nhu cầu chất lỏng có thể được đáp ứng qua nhiều nguồn khác nhau bao gồm nước lọc, các loại đồ uống khác và nước nằm sẵn trong thực phẩm [1]. Hàm lượng nước trong thực phẩm rất đáng kể, dao động từ 37% theo trọng lượng trong bánh mì cho đến 99% trong các loại rau củ và trái cây [1].

Hiểu lầm thứ hai là sử dụng chất lỏng làm đặc (thickened-fluids) cho người già bị chứng khó nuốt thì chắc chắn sẽ đủ nước. Ở người cao tuổi mắc chứng khó nuốt (dysphagia), việc uống đủ nước rất khó khăn do nguy cơ bị sặc và hít sặc vào phổi [1]. Một nghiên cứu trên các bệnh nhân đột quỵ bị khó nuốt chỉ ra rằng những người chỉ dùng chế độ chất lỏng làm đặc đã không đạt được nhu cầu dịch của cơ thể, trong khi nhóm bệnh nhân được nuôi ăn qua ống thông hoặc truyền dịch tĩnh mạch lại nhận đủ lượng dịch cần thiết [1].

Hiểu lầm thứ ba là bệnh nhân nằm viện hoặc đang điều trị bệnh mãn tính tại nhà thì tự khắc đã được chú ý chuyện nước non. Tổng quan năm 2023 cho biết ở bệnh nhân cao tuổi mắc nhiều bệnh đồng mắc và dùng nhiều liệu pháp điều trị, tình trạng mất nước rất phổ biến nhưng thường không được nhận ra bất chấp các triệu chứng bệnh kéo dài [5]. Bệnh nhân nội trú vẫn thuộc nhóm có nguy cơ mất nước, còn bệnh nhân tại nhà lại dễ bỏ quên hoàn toàn việc quản lý dịch và năng lượng [5].

Ai nên thận trọng và cần theo dõi sát?

Nhóm cần đặc biệt lưu tâm đầu tiên là người rất cao tuổi (từ 85 tuổi trở lên), phụ nữ lớn tuổi, người bị suy giảm nhận thức, sa sút trí tuệ, gặp khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày hoặc tiểu không tự chủ [2][3][4]. Những người có bệnh lý tim mạch hoặc đang dùng thuốc điều trị cũng cần được quản lý sát sao vì mất nước có thể dẫn đến ngộ độc thuốc, trong khi bản thân việc dùng thuốc và chức năng thận suy giảm lại làm thay đổi nhu cầu dịch của cơ thể [1][6]. Người có bệnh nền thận hoặc tim mạch cần hỏi ý kiến bác sĩ điều trị để có định mức dịch an toàn cho riêng mình.

Nhóm thứ hai là người cao tuổi có chứng khó nuốt sau đột quỵ hoặc do lão hóa tự nhiên [1]. Với nhóm này, gia đình và nhân viên y tế cần theo dõi chặt các triệu chứng lâm sàng của mất nước như khô niêm mạc, lượng nước tiểu ít, tỷ trọng nước tiểu tăng cao và sụt cân [1]. Các xét nghiệm sinh hóa máu như hematocrit và nồng độ natri, nitơ urê máu (BUN), albumin tăng cao cũng là những chỉ dấu quan trọng cần giám sát [1]. Ngoài ra, mọi bệnh nhân khó nuốt đều cần được đánh giá dinh dưỡng toàn diện để phát hiện nguy cơ suy dinh dưỡng thiếu protein-năng lượng hoặc thiếu vi chất [1].

Nhóm thứ ba là người đang sốt, vận động thể lực hoặc sống trong môi trường nhiệt độ cao [1][8]. Các yếu tố môi trường và tình trạng lâm sàng này ảnh hưởng trực tiếp đến lượng dịch cơ thể, chất điện giải và cân bằng kiềm-toan nên cần điều chỉnh lượng nước uống linh hoạt [1][8].

Cách áp dụng thực tế giúp người cao tuổi đủ nước mỗi ngày

Để phòng ngừa mất nước, một bài tổng quan năm 2004 đúc kết 5 chiến lược cốt lõi: đánh giá các triệu chứng gợi ý mất nước; khuyến khích tiêu thụ cả chất lỏng và thực phẩm giàu nước; cảnh giác với các tình trạng thể chất và lâm sàng ảnh hưởng đến hydrat hóa; tính đến các yếu tố môi trường tác động lên dịch và điện giải; và khuyến khích các phương pháp giúp tăng lượng dịch tiêu thụ [8].

Trong sinh hoạt hằng ngày, người khỏe mạnh từ 50 đến 80 kg nên hướng tới mức tối thiểu 1.500 ml chất lỏng mỗi ngày từ cả nước uống và thức ăn, hoặc điều chỉnh quanh mốc 2.000 ml tùy theo khuyến nghị và chỉ định y tế cá nhân [2][1][3]. Thay vì đợi khát mới uống, gia đình nên chủ động mời ông bà uống nước lọc chia nhỏ nhiều lần trong ngày, vì nghiên cứu đã chứng minh việc trực tiếp đưa nước bổ sung giúp tăng lượng dịch tiêu thụ lên gấp 2,5 lần sau một tuần [7]. Có thể kết hợp giáo dục nhận thức với các thiết bị hoặc lịch nhắc uống nước cố định [6].

Về chế biến và lựa chọn thực phẩm, nên đa dạng hóa nguồn dịch bằng sữa, nước trái cây, súp, canh và tăng cường rau củ quả tươi vốn chứa tới 99% là nước theo trọng lượng [1][4]. Với người bệnh đang hồi phục tại nhà hoặc có bệnh lý kèm theo, có thể tham khảo ý kiến bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng về việc sử dụng các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng đường uống như liệu pháp bù nước đường uống có công thức khoa học (ORT), kết hợp tư vấn dinh dưỡng và điều chỉnh chế độ ăn để tối ưu hiệu quả điều trị [5].

Uống đủ nước ở tuổi già không đơn thuần là giải khát mà là một biện pháp y tế dự phòng thiết yếu giúp bảo vệ não bộ, thận và hệ tim mạch [5][6]. Sự chủ động nhắc nhở từ người thân, kết hợp linh hoạt giữa nước uống và thực phẩm giàu nước, sẽ giúp người cao tuổi duy trì thể trạng ổn định và hạn chế những ca nhập viện không đáng có [5][1][8]. Nếu người lớn tuổi có bệnh nền phức tạp hoặc có dấu hiệu khô môi, ít tiểu, lú lẫn, gia đình cần đưa đi khám bác sĩ ngay để được can thiệp kịp thời [1][6].