Đun vỏ quế lấy nước uống mỗi sáng đang là thói quen của nhiều người bệnh tiểu đường tại Việt Nam. Không ít người tin rằng loại gia vị ấm nóng này là giải pháp tự nhiên giúp kiểm soát đường máu mà không cần phụ thuộc hoàn toàn vào thuốc Tây.
Trên thực tế, quế có chứa hoạt chất sinh học giúp cải thiện độ nhạy insulin và hỗ trợ hạ đường huyết lúc đói ở một số người bệnh tiểu đường type 2 [1] [2]. Tuy nhiên, kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng trên thế giới vẫn chưa đồng nhất: có nghiên cứu ghi nhận đường huyết giảm rõ rệt, nhưng cũng có thử nghiệm cho thấy quế không tạo ra khác biệt so với giả dược [3] [4] [5]. Do đó, nước quế chỉ có thể đóng vai trò hỗ trợ bên cạnh thuốc điều trị chứ không phải "thần dược" thay thế phác đồ y khoa [5] [6].
Cơ chế quế tác động lên đường huyết và insulin
Tiểu đường type 2 là rối loạn chuyển hóa phổ biến nhất toàn cầu, đặc trưng bởi tình trạng bất thường trong chuyển hóa chất bột đường, chất béo và sự suy giảm hoạt động của hormone insulin [7] [4]. Khi cơ thể bị kháng insulin, đường trong máu không thể đi vào tế bào hiệu quả, dẫn đến tăng đường huyết kéo dài và kéo theo nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu hoặc xơ vữa động mạch [7].
Các nhà khoa học phát hiện trong vỏ quế (đặc biệt là giống Cinnamomum cassia) có chứa các hợp chất tự nhiên gồm crom và polyphenol nhóm A [2]. Các hợp chất này có khả năng bắt chước hoạt động của insulin hoặc kích thích tín hiệu tiếp nhận insulin của tế bào [3] [2]. Nhờ cải thiện độ nhạy insulin, cơ thể xử lý đường hiệu quả hơn sau bữa ăn và giảm mức đường huyết lúc đói [5] [2].
Ngoài ra, một nghiên cứu trên mô hình chuột béo phì kháng insulin công bố năm 2014 cho thấy chiết xuất quế dùng trong 6 tuần giúp giảm đường huyết lúc đói, giảm lượng mỡ tích tụ (triglyceride) tại gan và tăng dự trữ glycogen ở gan đi kèm cải thiện độ nhạy insulin tại gan và não [8]. Đáng chú ý, quế không làm tụt đường huyết xuống mức hạ đường huyết nguy hiểm ở cá thể có đường máu bình thường [8].
Những nghiên cứu ghi nhận lợi ích rõ rệt
Hiệu quả tích cực của quế đã được chứng minh qua nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược. Một báo cáo năm 2008 tổng hợp dữ liệu cho thấy người bệnh tiểu đường type 2 tiêu thụ từ 1 đến 6 g quế mỗi ngày trong 40 ngày giúp giảm trung bình 18-29% đường huyết lúc đói, giảm 23-30% chỉ số mỡ máu triglyceride, giảm 12-26% cholesterol toàn phần và giảm 7-27% cholesterol xấu (LDL) [2]. Một thử nghiệm can thiệp khác trên người dùng 1 g quế mỗi ngày cũng ghi nhận mức giảm đường huyết lúc đói tới 30% [3].
Tại Trung Quốc, nơi quế được dùng làm dược liệu hàng nghìn năm, một thử nghiệm lâm sàng công bố năm 2012 đã theo dõi 66 bệnh nhân tiểu đường type 2 trong 3 tháng [1]. Tất cả bệnh nhân đều đang uống thuốc hạ đường huyết gliclazide và được chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm: dùng giả dược, dùng chiết xuất quế liều thấp (120 mg/ngày) và liều cao (360 mg/ngày) [1]. Kết quả sau 3 tháng cho thấy cả hai nhóm dùng chiết xuất quế đều giảm đáng kể chỉ số đường huyết lúc đói và chỉ số đường huyết trung bình 3 tháng (HbA1c), trong khi nhóm giả dược không thay đổi [1]. Riêng nhóm dùng liều thấp 120 mg/ngày còn giảm đáng kể mỡ máu triglyceride, còn các chỉ số cholesterol và men gan giữ nguyên ở cả 3 nhóm [1].
Một thử nghiệm khác công bố năm 2010 tại Anh thực hiện trên 58 bệnh nhân tiểu đường type 2 đa sắc tộc (25 nam, 33 nữ, độ tuổi trung bình 54,9) đang dùng thuốc hạ đường huyết nhưng kiểm soát kém (HbA1c trên 7%) [6]. Bệnh nhân uống 2 g quế hoặc giả dược mỗi ngày trong 12 tuần [6]. Kết thúc nghiên cứu, nhóm dùng quế giảm có ý nghĩa thống kê chỉ số HbA1c từ 8,22% xuống 7,86% (nhóm giả dược tăng từ 8,55% lên 8,68%) [6]. Huyết áp tâm thu của nhóm dùng quế cũng giảm từ 132,6 xuống 129,2 mmHg và huyết áp tâm trương giảm từ 85,2 xuống 80,2 mmHg [6]. Đường huyết lúc đói, vòng eo và chỉ số khối cơ thể (BMI) ở nhóm dùng quế có giảm sau 12 tuần so với ban đầu, nhưng mức giảm này không chênh lệch đáng kể khi đặt cạnh nhóm giả dược [6].
Đối với nhóm dùng chiết xuất quế tan trong nước giàu polyphenol nhóm A, các nghiên cứu còn ghi nhận sự cải thiện đường huyết lúc đói, huyết áp tâm thu, giảm tỷ lệ mỡ cơ thể ở người mắc hội chứng chuyển hóa, đồng thời cải thiện độ nhạy insulin ở phụ nữ kháng insulin do hội chứng buồng trứng đa nang [2].
Khi nghiên cứu cho kết quả trái ngược
Dù có nhiều tín hiệu khả quan, giới y học vẫn thận trọng vì không phải thử nghiệm nào cũng thành công [5] [2]. Một bài tổng quan hệ thống năm 2009 phân tích 8 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (gồm 5 nghiên cứu trên người tiểu đường type 2 và 3 nghiên cứu trên người không tiểu đường, tổng cộng 311 người) sử dụng quế Cinnamomum verum hoặc Cinnamomum cassia từ năm 2003 đến năm 2008 [5]. Kết quả cho thấy chỉ có 2 nghiên cứu trên bệnh nhân tiểu đường ghi nhận mức giảm đường huyết lúc đói có ý nghĩa (giảm 18-29% và 10,3%), 1 nghiên cứu trên người không tiểu đường giảm 8,4% đường huyết lúc đói, trong khi 3 nghiên cứu khác trên bệnh nhân tiểu đường không ghi nhận bất kỳ tác dụng đáng kể nào [5].
Cụ thể, một nghiên cứu năm 2006 thực hiện trên 25 phụ nữ mãn kinh mắc tiểu đường type 2 (tuổi trung bình 62,9; BMI trung bình 30,4 kg/m2) cho dùng 1,5 g quế (Cinnamomum cassia) hoặc giả dược mỗi ngày trong 6 tuần [3]. Sau 2 tuần và 6 tuần kiểm tra, nhóm nghiên cứu kết luận việc bổ sung 1,5 g quế mỗi ngày không hề cải thiện độ nhạy insulin toàn thân, khả năng dung nạp glucose hay chỉ số mỡ máu ở nhóm bệnh nhân này [3].
Tương tự, hai thử nghiệm lâm sàng công bố năm 2012 và năm 2017 cùng khảo sát mức liều 3 g quế mỗi ngày trong 8 tuần trên 44 bệnh nhân tiểu đường type 2 (chia đều 22 người dùng quế, 22 người dùng giả dược) [7] [4]. Ở nghiên cứu năm 2012 (37 người hoàn thành), dù nhóm dùng quế có giảm đường huyết lúc đói, HbA1c, triglyceride, cân nặng và khối lượng mỡ so với thời điểm bắt đầu, nhưng khi so sánh trực tiếp với nhóm uống giả dược vào cuối đợt thì sự khác biệt lại không có ý nghĩa thống kê [7]. Đến nghiên cứu năm 2017 (39 người hoàn thành, tuổi trung bình 57), việc uống 3 g quế mỗi ngày trong 8 tuần không tạo ra thay đổi đáng kể nào về đường huyết lúc đói, nồng độ insulin, HbA1c, chỉ số kháng insulin (HOMA-IR) hay các chỉ số chống oxy hóa ở cả trong từng nhóm lẫn giữa hai nhóm với nhau [4].
Vì sao có sự khác biệt và hiểu lầm cần tránh
Theo các nhà nghiên cứu, sự trái ngược giữa các kết quả bắt nguồn từ nhiều yếu tố: thời gian can thiệp ngắn hay dài, dạng quế sử dụng (bột quế thô hay chiết xuất nước), mức độ béo phì và mức độ rối loạn dung nạp đường ban đầu của từng nhóm bệnh nhân [5] [2].
Hiểu lầm lớn nhất của người bệnh là đánh đồng việc uống nước quế với thuốc điều trị đặc hiệu. Ngay cả những nghiên cứu cho kết quả tốt nhất ở Trung Quốc hay Anh cũng được thực hiện trên nền tảng bệnh nhân vẫn đang duy trì thuốc hạ đường huyết hàng ngày (như gliclazide) [1] [6]. Các tác giả năm 2009 khẳng định chưa thể đưa ra kết luận dứt khoát để coi quế là một liệu pháp điều trị tiểu đường độc lập [5].
Một hiểu lầm khác là "càng uống nhiều càng hạ đường nhanh". Thực tế cho thấy liều 3 g bột quế mỗi ngày trong 8 tuần không tạo ra khác biệt vượt trội so với giả dược [7] [4], trong khi liều chiết xuất tiêu chuẩn hóa chỉ 120 mg đến 360 mg mỗi ngày hoặc 2 g quế duy trì đủ 12 tuần lại cho hiệu quả rõ ràng trên chỉ số HbA1c [1] [6].
Ai nên thận trọng khi dùng quế?
Người bệnh tiểu đường đang sử dụng thuốc hạ đường huyết theo đơn cần đặc biệt lưu ý: tuyệt đối không tự ý bỏ thuốc để chuyển sang uống nước quế [6]. Việc bổ sung quế với mục đích hỗ trợ cần có sự trao đổi trước với bác sĩ điều trị để theo dõi sát chỉ số đường máu và huyết áp [6].
Phụ nữ sau mãn kinh mắc tiểu đường type 2 hoặc người thừa cân, béo phì lâu năm cần hiểu rằng cơ địa của mình có thể không đáp ứng mạnh với quế như kỳ vọng, giống như kết quả từ thử nghiệm năm 2006 [3]. Ngoài ra, dù nghiên cứu năm 2012 dùng chiết xuất quế (120-360 mg/ngày) cho thấy men gan không bị ảnh hưởng sau 3 tháng [1], người có bệnh nền về gan hoặc đang dùng nhiều loại thuốc chuyển hóa qua gan vẫn nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng quế liều cao kéo dài.
Áp dụng thực tế sao cho an toàn và hiệu quả
Trong đời sống hàng ngày, người bệnh tiểu đường type 2 có thể sử dụng quế như một gia vị lành mạnh hoặc pha nước ấm uống hỗ trợ sau khi đã tham khảo ý kiến bác sĩ [6]. Dựa trên các nghiên cứu có kết quả tích cực, lượng bột quế thông thường được khảo sát nằm trong khoảng 1 đến 2 g mỗi ngày (tương đương khoảng nửa thìa cà phê bột quế), duy trì đều đặn từ 40 ngày đến 12 tuần [2] [6].
Việc sử dụng dịch chiết quế bằng nước (như hãm vỏ quế hoặc bột quế với nước nóng để lấy phần nước trong) giúp thu nhận các hoạt chất polyphenol nhóm A tan trong nước, vốn đã được chứng minh có lợi cho độ nhạy insulin và huyết áp ở người rối loạn chuyển hóa [2]. Bạn cũng có thể rắc một chút bột quế vào cháo yến mạch, sữa chua không đường hoặc các món hầm để tăng hương vị mà không làm tăng năng lượng bữa ăn.
Tóm lại, nước quế có tiềm năng hỗ trợ kiểm soát đường huyết lúc đói, HbA1c và huyết áp ở một bộ phận người bệnh tiểu đường type 2 [1] [5] [6]. Tuy nhiên, hiệu quả này không đồng đều ở tất cả mọi người [5] [2]. Để kiểm soát bệnh bền vững, người bệnh cần lấy việc tuân thủ thuốc điều trị của bác sĩ, kiểm soát cân nặng, vận động thể lực và chế độ dinh dưỡng cân bằng làm gốc, chỉ xem quế là một phần bổ trợ nhỏ trong lối sống lành mạnh [7] [6].




