Khi bị cảm lạnh, ho hay đau nhức xương khớp trong thai kỳ, nhiều phụ nữ có xu hướng tìm đến các bài thuốc thảo dược vì cho rằng nguyên liệu tự nhiên sẽ lành tính hơn thuốc Tây. Trong đó, phòng phong là vị thuốc cổ truyền quen thuộc thường xuất hiện trong các thang thuốc giải cảm hoặc giảm đau khớp, khiến không ít thai phụ băn khoăn về tính an toàn của dược liệu này.

Câu trả lời ngắn gọn là hiện chưa có dữ liệu nghiên cứu khoa học nào đánh giá trực tiếp độ an toàn của phòng phong trên phụ nữ mang thai hoặc thai nhi. Mặc dù các thử nghiệm độc tính trên động vật thông thường cho thấy chiết xuất nước của phòng phong có ngưỡng an toàn khá cao [1], việc thiếu hụt hoàn toàn bằng chứng trên thai kỳ đồng nghĩa với việc bà bầu không nên tự ý sử dụng vị thuốc này.

Phòng phong là dược liệu gì và hoạt động thế nào?

Phòng phong có tên khoa học là Saposhnikovia divaricata (hoặc tên đồng nghĩa Radix Ledebouriella divaricata), là một loài thực vật có hoa thuộc họ Hoa tán (Apiaceae/Umbelliferae) phân bố phổ biến ở khu vực Đông Á [1, 2]. Bộ phận dùng làm thuốc là phần rễ phơi khô [1]. Trong y văn cổ truyền như sách Thần Nông Bản Thảo Kinh, phòng phong được xếp vào nhóm thảo dược thượng phẩm với phổ ứng dụng rộng để trị ho, cảm lạnh thông thường, đau khớp và các rối loạn thấp khớp [2].

Về mặt hóa học, rễ phòng phong chứa nhiều hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học mạnh, nổi bật là nhóm chromone, coumarin và polysaccharide [2, 8]. Một nghiên cứu công bố năm 2020 phân tích dịch chiết cồn 40% từ rễ phòng phong thu hái tại Buryatia và Mông Cổ đã phân lập được tổng cộng 15 hợp chất riêng biệt [2]. Các chất này bao gồm nhóm coumarin (scopoletin, bergapten, isoimperatorin, marmesin, (+)-decursinol, (-)-praeruptorin B, oxypeucedanin hydrate), nhóm chromone (hamaudol, cimifugin, 5-O-methylvisamminol), nhóm chromone glycoside (prim-O-glucosylcimifugin, sec-O-glucosylhamaudol, 4'-O-beta-D-glucopyranosyl-5-O-methylvisamminol, 4'-O-beta-D-glucopyranosylvisamminol) và hợp chất polyyne là panaxinol [2].

Các thành phần này mang lại cho phòng phong khả năng kháng virus, chống oxy hóa, chống tăng sinh tế bào và điều hòa phản ứng viêm trong cơ thể [2, 5]. Ngoài ra, chiết xuất rễ phòng phong còn có khả năng ức chế enzyme xanthine oxidase (một enzyme tham gia tạo axit uric) và can thiệp vào đường truyền tín hiệu chuyển hóa purine cũng như biểu hiện mRNA của enzyme adenosine deaminase (ADA) [1, 5].

Nghiên cứu khoa học nói gì về độc tính và tác dụng của phòng phong?

Để đánh giá mức độ an toàn của một dược liệu, các nhà khoa học thường bắt đầu bằng thử nghiệm độc tính trên động vật. Một nghiên cứu công bố năm 2019 đã tiến hành đánh giá độc tính cấp tính và bán mãn tính (kéo dài 13 tuần) qua đường uống của chiết xuất nước rễ phòng phong trên cả hai giới của giống chuột cống Crl:CD(SD) với liều từ 500 đến 5.000 mg/kg trọng lượng cơ thể [1]. Kết quả theo dõi tỷ lệ tử vong, dấu hiệu lâm sàng, trọng lượng cơ thể, trọng lượng cơ quan, sinh hóa lâm sàng, huyết học, phân tích nước tiểu và mô bệnh học cho thấy không có độc tính đáng kể nào xảy ra ở cả liều cấp tính, liều lặp lại 4 tuần lẫn thử nghiệm 13 tuần [1]. Mức liều không gây tác dụng bất lợi quan sát được (NOAEL) được xác định lên tới 5.000 mg/kg/ngày [1].

Cũng trong nghiên cứu năm 2019 này, nhóm tác giả đã thử nghiệm tác dụng hạ axit uric máu trên mô hình chuột nhắt (mỗi nhóm 7 con) bị gây tăng axit uric bằng cách tiêm màng bụng chất potassium oxonate (liều 250 mg/kg) trong 8 ngày [1]. Việc bổ sung chiết xuất nước phòng phong đã ức chế nồng độ axit uric trong nước tiểu thông qua hoạt tính ức chế đáng kể enzyme xanthine oxidase, đồng thời làm giảm nồng độ creatinine huyết thanh theo cách phụ thuộc vào liều dùng, giúp cải thiện tình trạng rối loạn chức năng thận ở chuột [1].

Về tác dụng trên hệ cơ xương khớp, một nghiên cứu năm 2023 đã khảo sát hiệu quả của phòng phong trên mô hình chuột cống bị viêm khớp dạng thấp do chất bổ trợ Freund hoàn toàn gây ra [3]. Kết quả cho thấy việc dùng phòng phong giúp chuột tăng trọng lượng cơ thể, giảm sưng bàn chân, giảm nồng độ các cytokine gây viêm trong huyết thanh và giảm tổn thương sụn khớp [3]. Phân tích chuyên sâu bằng kỹ thuật Western blotting và RT-PCR chỉ ra rằng dược liệu này cải thiện triệu chứng viêm khớp thông qua việc làm giảm biểu hiện mRNA của ADA và mức chuyển hóa inosine trong đường truyền tín hiệu chuyển hóa purine [3].

Ở cấp độ tế bào, một nghiên cứu công bố năm 2008 đã tách chiết polysaccharide từ rễ phòng phong bằng nước nóng và kết tủa cồn, sau đó dùng chất kết tủa CTAB để phân tách thành polysaccharide axit (A-SPS) và polysaccharide trung tính (N-SPS) [4]. Trong hệ thống mô phỏng hóa học trong ống nghiệm, nhóm chất này giúp dọn dẹp các gốc tự do (anion superoxide, gốc hydroxyl, gốc DPPH) và ức chế quá trình peroxy hóa lipid do ion sắt (Fe2+) gây ra [4]. Đặc biệt, phân đoạn A-SPS ở nồng độ thử nghiệm 8 mg/ml đạt tỷ lệ dọn gốc tự do DPPH và hydroxyl lên tới gần 70% [4].

Một nghiên cứu khác công bố năm 2025 trên dòng tế bào thần kinh HT22 bị gây độc bằng chất NaAsO2 (nồng độ 12,5 microM) cũng ghi nhận khả năng bảo vệ tế bào của phòng phong [5]. Khi kết hợp thêm dịch chiết phòng phong ở nồng độ 400 microg/mL, hàm lượng các gốc oxy hóa tự do (ROS) trong tế bào giảm mạnh từ 421,99 +- 75,12% xuống còn 166,46 +- 89,49%, đồng thời lượng glutathione (GSH) tổng hợp được phục hồi tăng lên đáng kể [5]. Tỷ lệ tế bào chết theo chương trình (apoptosis) cũng giảm từ 18,65 +- 1,29% ở nhóm nhiễm độc xuống còn 7,53 +- 1,03% ở nhóm được xử lý bằng phòng phong [5]. Tuy nhiên, nghiên cứu năm 2020 trên các dòng tế bào ung thư (MEL-8, U-937, DU-145, MDA-MB-231 và VT-474) bằng phương pháp MTT lại lưu ý rằng các hợp chất phân lập từ dịch chiết cồn của phòng phong có hoạt tính gây độc tế bào và chống tăng sinh [2].

Khoảng trống bằng chứng đối với phụ nữ mang thai

Mặc dù dữ liệu từ nghiên cứu năm 2019 cho thấy chiết xuất nước của phòng phong an toàn trên chuột bình thường ở mức liều rất cao (5.000 mg/kg/ngày) [1], kết quả này không thể áp dụng trực tiếp cho phụ nữ đang mang thai. Toàn bộ các thử nghiệm nêu trên chỉ mới dừng lại ở mô hình ống nghiệm hoặc trên động vật không mang thai [1, 2, 4, 5, 8]. Hiện chưa có bất kỳ nghiên cứu lâm sàng nào trên người, cũng như chưa có thử nghiệm độc tính sinh sản hay quái thai nào của phòng phong trên động vật mang thai.

Hơn nữa, thai kỳ là giai đoạn các tế bào phôi thai phân chia và biệt hóa liên tục với tốc độ rất cao. Việc phòng phong chứa tới 15 hợp chất nhóm coumarin và chromone có hoạt tính sinh học mạnh, bao gồm cả khả năng chống tăng sinh và gây độc tế bào trên mô hình nuôi cấy [2], đặt ra những nghi ngại hợp lý về nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi nếu dùng liều cao hoặc chiết xuất đậm đặc. Ngoài ra, chất lượng dược liệu thực tế còn biến đổi phức tạp; một nghiên cứu năm 2025 sử dụng kỹ thuật hình ảnh khối phổ (LACFI-MSI) đã chứng minh rằng khi cây phòng phong bước vào giai đoạn trổ ngồng (ra thân hoa), sự phân bố không gian của các chất chuyển hóa thứ cấp bị thay đổi rõ rệt và cây đã trổ ngồng thì không còn được dùng làm thuốc theo tiêu chuẩn dược điển [6].

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược lúc mang thai

Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng khái niệm "thảo dược tự nhiên" với "hoàn toàn vô hại". Theo định nghĩa chuyên môn, thuốc thảo dược truyền thống là các chất có nguồn gốc thực vật tự nhiên với rất ít hoặc không qua chế biến công nghiệp, vốn được thiết kế để dùng qua đường uống mà không có sự can thiệp chẩn đoán hay giám sát của nhân viên y tế [1]. Chính đặc điểm tự dùng không qua giám sát này làm tăng nguy cơ gặp tác dụng phụ khi người bệnh tự ý bốc thuốc.

Hiểu lầm thứ hai là cho rằng các loại thuốc dùng cho trẻ em hoặc người lớn thông thường thì bà bầu cũng dùng được. Trong y học cổ truyền, phòng phong từng được ghi nhận dùng cho chứng lo âu ở trẻ em, trị ho và cảm lạnh [2]. Tuy nhiên, cơ chế chuyển hóa qua nhau thai hoàn toàn khác với cơ thể trẻ nhỏ đã chào đời, nên việc suy diễn độ an toàn này là thiếu cơ sở khoa học.

Ai nên thận trọng khi sử dụng phòng phong?

Nhóm đầu tiên cần đặc biệt thận trọng là phụ nữ đang mang thai ở mọi tam cá nguyệt và phụ nữ đang cho con bú. Do thiếu dữ liệu an toàn trên thai kỳ và chứa nhiều hoạt chất nhóm coumarin, chromone có tác động sinh học đa đích [2], phụ nữ mang thai không nên tự ý uống các thang thuốc có chứa phòng phong.

Nhóm thứ hai là người có bệnh nền mạn tính về gan, thận hoặc rối loạn chuyển hóa đang phải dùng thuốc điều trị theo đơn. Dù phòng phong bước đầu cho thấy lợi ích bảo vệ thận và hạ axit uric trên chuột [1], các hợp chất trong dược liệu vẫn có thể tương tác với thuốc Tây y đang sử dụng. Người bệnh tuyệt đối không dùng phòng phong để tự thay thế thuốc điều trị gout, viêm khớp dạng thấp hay các bệnh lý khác khi chưa hỏi ý kiến bác sĩ.

Áp dụng thực tế thế nào để đảm bảo an toàn?

Đối với người trưởng thành không mang thai khi có nhu cầu sử dụng phòng phong để hỗ trợ sức khỏe, nguyên tắc quan trọng nhất là thăm khám tại các cơ sở y học cổ truyền uy tín. Khi sử dụng, người dùng chỉ nên chọn phần rễ khô của cây phòng phong chưa trổ ngồng, bởi cây đã trổ ngồng bị suy giảm giá trị dược tính và không đạt chuẩn làm thuốc [1, 7].

Cách chế biến truyền thống và an toàn nhất được kiểm chứng qua nghiên cứu độc tính là dùng dạng chiết xuất bằng nước (sắc lấy nước uống), vì dạng chiết xuất nước đã được chứng minh không gây độc tính cấp và bán mãn tính trên động vật ở ngưỡng liều rộng [1]. Người dùng không nên tự ý ngâm rượu hoặc dùng các dung môi hữu cơ để chiết xuất phòng phong tại nhà, do dịch chiết cồn chứa nhiều phân đoạn hợp chất có độc tính tế bào chưa được đánh giá hết rủi ro trên cơ thể sống [2].

Đối với phụ nữ mang thai khi gặp các triệu chứng cảm lạnh, ho hay đau nhức khớp, giải pháp an toàn là nghỉ ngơi, uống đủ nước ấm, giữ ấm cơ thể và ăn uống cân bằng. Nếu triệu chứng kéo dài hoặc nặng lên, thai phụ cần đến bệnh viện để bác sĩ sản khoa phối hợp cùng bác sĩ chuyên khoa chỉ định phương pháp điều trị đã có bằng chứng an toàn rõ ràng cho thai nhi.

Tóm lại, phòng phong là một vị thuốc quý chứa nhiều hoạt chất chống oxy hóa, kháng viêm và hạ axit uric tiềm năng trên thực nghiệm [1, 5, 8]. Tuy nhiên, trước khoảng trống dữ liệu về độc tính trên thai kỳ, sự cẩn trọng và tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa luôn là lựa chọn tốt nhất để bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và bé.