Nhiều phụ nữ khi bước vào thai kỳ thường băn khoăn về lượng nước cần uống mỗi ngày để thai nhi phát triển khỏe mạnh. Không ít mẹ bầu duy trì thói quen uống nước như lúc chưa mang thai, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lượng dịch cần thiết cho cơ thể. Nhu cầu nước của phụ nữ thực tế sẽ tăng dần theo từng giai đoạn phát triển của tuổi thai [1].
Các chuyên gia dinh dưỡng và sản khoa thường khuyến nghị thai phụ nên bổ sung thêm khoảng 300ml chất lỏng mỗi ngày so với mức bình thường của người trưởng thành. Lượng bổ sung tương đương một cốc nước lớn này đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ giãn nở thể tích tuần hoàn máu của mẹ và duy trì lượng nước ối ổn định cho thai nhi.
Cơ chế sinh học: Vì sao thai kỳ đòi hỏi nhiều nước hơn?
Trong suốt thai kỳ, cơ thể người mẹ trải qua những thay đổi sinh lý mạnh mẽ để nuôi dưỡng bào thai đang phát triển [1]. Nhu cầu nước tăng lên tỷ lệ thuận với tuổi thai nhằm đáp ứng sự gia tăng thể tích huyết tương, tuần hoàn nhau thai và sự hình thành buồng ối [1]. Tình trạng uống không đủ nước có thể gây mất nước sinh học, tác động tiêu cực đến sức khỏe của mẹ bầu và làm tăng nguy cơ gặp phải các kết cục thai kỳ bất lợi [1].
Việc duy trì đủ nước giúp giảm thiểu các nguy cơ biến chứng sản khoa nghiêm trọng như tiền sản giật, cạn ối hoặc giảm thể tích bánh nhau [2]. Hơn nữa, việc cung cấp đủ dịch qua đường uống tạo điều kiện cho quá trình trao đổi chất qua màng ối diễn ra thông suốt, bảo vệ thai nhi khỏi những nguy cơ chèn ép dây rốn hoặc bất thường tư thế [3].
Thực trạng báo động: Đa số phụ nữ mang thai uống thiếu nước
Dù nước có vai trò sống còn, các nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận phần lớn thai phụ hiện nay không uống đủ nước theo khuyến cáo [3, 8]. Nhu cầu dịch cơ thể thực tế có xu hướng tăng từ từ theo các giai đoạn thai kỳ [4].
Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu công bố năm 2023 tại Trung Quốc theo dõi lượng dịch nạp vào ở 142 phụ nữ mang thai qua ba tam cá nguyệt bằng bảng hỏi ghi nhận trong 7 ngày liên tục [4]. Kết quả cho thấy lượng chất lỏng trung vị nạp vào ở tam cá nguyệt thứ nhất, thứ hai và thứ ba lần lượt là 1336 mL, 1477 mL và 1584 mL mỗi ngày [4]. Đáng chú ý, tỷ lệ thai phụ không đạt mức khuyến nghị về tổng lượng dịch nạp vào ở ba tam cá nguyệt lần lượt lên tới 100,0%, 97,2% và 85,2% [4]. Nước lọc chiếm nguồn cung cấp chính, đạt từ 92,0% đến 94,2% tổng lượng dịch [4]. Tỷ lệ thai phụ có tình trạng giữ nước không tối ưu (đo qua áp lực thẩm thấu nước tiểu) ở ba giai đoạn lần lượt là 71,8%, 76,1% và 83,1% [4].
Một khảo sát trực tuyến năm 2024 trên 137 phụ nữ mang thai (độ tuổi trung bình 30,9; tuổi thai trung bình 20,9 tuần) cũng cho thấy 63% người tham gia thiếu kiến thức về khuyến nghị uống nước và 67% không đáp ứng đủ mức dịch cần thiết [2]. Có tới 59% số thai phụ không theo dõi lượng nước uống hằng ngày [2]. Nguy cơ thiếu nước đặc biệt rõ rệt ở tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba khi nhu cầu của cơ thể bắt đầu tăng mạnh [2].
Rào cản khiến mẹ bầu khó duy trì thói quen uống đủ nước
Khảo sát năm 2024 chỉ ra rằng nhận thức về nhu cầu nước có sự chênh lệch rõ rệt theo giai đoạn thai kỳ [2]. Phụ nữ ở giai đoạn sau của thai kỳ ước tính nhu cầu bản thân là 82 ounce (khoảng 2,4 lít), trong khi phụ nữ ở giai đoạn đầu thai kỳ chỉ ước tính mức 49 ounce (khoảng 1,4 lít) [2].
Những rào cản phổ biến nhất khiến mẹ bầu không nạp đủ nước gồm có:
- Quên uống nước trong ngày (chiếm 47%) [2].
- Không cảm thấy khát dù cơ thể đang thiếu nước (chiếm 47%) [2].
- Tâm lý e ngại vì tình trạng tăng tần suất đi tiểu tiện (chiếm 33%) [2].
Nghiên cứu cũng ghi nhận 69% phụ nữ mang thai sẵn sàng ứng dụng các công cụ kỹ thuật số và 67% tin rằng bình nước thông minh sẽ hỗ trợ họ đạt được mục tiêu bổ sung nước mỗi ngày [2].
Tác động của việc bổ sung nước đối với thể tích nước ối
Lượng nước nạp vào cơ thể mẹ có mối liên hệ trực tiếp với lượng dịch ối bao quanh thai nhi [2, 5]. Thiểu ối đơn thuần là tình trạng sụt giảm thể tích nước ối không kèm theo dị tật thai nhi hay bệnh lý nền của mẹ, thường xuất phát từ việc người mẹ uống không đủ chất lỏng [5].
Một thử nghiệm ngẫu nhiên trên 50 trường hợp thiểu ối đơn thuần chia làm hai nhóm uống bổ sung thêm 2 lít dung dịch bù nước đường uống mỗi ngày bên cạnh chế độ ăn [5]. Nhóm uống nước có nhân viên y tế giám sát tại bệnh viện ghi nhận chỉ số ối (AFI) tăng vượt trội so với nhóm tự uống tại nhà không giám sát (p < 0,001) [5]. Đồng thời, cân nặng sơ sinh, trọng lượng bánh nhau và điểm số APGAR của trẻ ở nhóm có giám sát cũng tốt hơn rõ rệt so với nhóm tại nhà do nhóm tại nhà tuân thủ kém [5].
Một tổng quan hệ thống của Cochrane tổng hợp 2 nghiên cứu trên 77 phụ nữ cho thấy hành động uống 2 lít nước trước khi siêu âm giúp tăng lượng nước ối ở cả thai phụ thiểu ối (chênh lệch trung bình có trọng số WMD = 2,01; khoảng tin cậy 95%: 1,43 đến 2,56) lẫn thai phụ có lượng ối bình thường (WMD = 4,5; khoảng tin cậy 95%: 2,92 đến 6,08) [3]. Bù dịch nhược trương qua đường tĩnh mạch cũng giúp tăng nước ối ở phụ nữ thiểu ối (WMD = 2,3), trong khi dịch đẳng trương không đem lại hiệu quả đo lường được [3].
Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2015 trên các cơ sở dữ liệu từ năm 1991 đến 2014 khẳng định uống nước qua đường miệng an toàn, dung nạp tốt và hiệu quả hơn so với truyền tĩnh mạch trong việc cải thiện chỉ số ối ở thai phụ thiểu ối đơn thuần [6]. Dung dịch nhược trương tỏ ra ưu việt hơn dung dịch đẳng trương, đồng thời sự cải thiện thể tích ối phụ thuộc vào thời gian duy trì bù nước hơn là lượng dịch dồn dập trong ngày [6].
Nhóm thai phụ cần thận trọng đặc biệt
Bổ sung nước là cần thiết nhưng không phải mọi thai phụ đều có đáp ứng sinh lý giống nhau, đặc biệt là nhóm có biến chứng huyết áp [7].
Một nghiên cứu năm 2002 đánh giá tác động của việc uống 2 lít nước trong vòng 1 giờ trên 5 thai phụ tăng huyết áp thai kỳ và 5 thai phụ huyết áp bình thường ở tuần thai 32-37 có chỉ số ối ban đầu bình thường [7]. Kết quả đo lại sau 3 giờ cho thấy chỉ số ối tăng ở cả hai nhóm, nhưng mức tăng ở nhóm tăng huyết áp thai kỳ thấp hơn rõ rệt so với nhóm huyết áp bình thường (tăng 1,7 cm so với 3,48 cm; p = 0,03) [7]. Tăng huyết áp thai kỳ làm cản trở khả năng gia tăng thể tích nước ối khi bổ sung nước, đòi hỏi sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ sản khoa [7].
Thai phụ mắc các bệnh lý như tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, bệnh lý thận hoặc tim mạch tuyệt đối không tự ý áp dụng các liệu trình uống nước dồn dập số lượng lớn. Việc điều chỉnh lượng dịch nạp vào ở nhóm này bắt buộc phải có chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa để tránh gây quá tải tuần hoàn.
Hướng dẫn áp dụng: Bổ sung nước an toàn và khoa học
Đối với thai phụ có sức khỏe bình thường, việc tăng thêm khoảng 300ml chất lỏng mỗi ngày so với nhu cầu thông thường nên được thực hiện linh hoạt và rải đều:
- Chia nhỏ lượng uống: Uống từng ngụm nhỏ, rải đều từ sáng đến chiều tối; tránh uống dồn một lượng lớn trong thời gian ngắn để không gây khó chịu cho dạ dày và tránh tiểu đêm nhiều lần [3, 4].
- Ưu tiên nước lọc: Nước lọc tinh khiết nên là nguồn cung cấp dịch chủ yếu trong ngày [4]. Bổ sung thêm các loại canh thanh đạm, sữa tươi tiệt trùng hoặc nước ép hoa quả nguyên chất không thêm đường.
- Tận dụng công nghệ ghi nhớ: Sử dụng các ứng dụng nhắc nhở trên điện thoại hoặc bình đựng nước có thang chia vạch thể tích để khắc phục rào cản hay quên uống nước [2].
- Lắng nghe cơ thể: Tăng nhẹ lượng nước khi thời tiết oi bức, ra nhiều mồ hôi hoặc sau các hoạt động thể lực nhẹ nhàng. Quan sát màu sắc nước tiểu buổi sáng để tự điều chỉnh lượng nước phù hợp [4].
Uống đủ nước là biện pháp chăm sóc sức khỏe thai kỳ đơn giản, tiết kiệm nhưng mang lại lợi ích lớn cho cả mẹ và bé [1, 2]. Thai phụ hãy duy trì thói quen uống nước đều đặn mỗi ngày, chủ động bổ sung thêm khoảng 300ml chất lỏng và luôn tham khảo ý kiến bác sĩ quản lý thai nghén khi có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào.










