Nhiều người mắc đái tháo đường truyền tai nhau phương pháp ăn thực dưỡng để hạ đường huyết. Tuy nhiên, việc áp dụng chế độ thực dưỡng cổ điển khắt khe đôi khi mang lại nhiều hệ lụy cho sức khỏe.

Thực dưỡng hiện đại khác với thực dưỡng cổ điển ở tính linh hoạt, phối hợp đa dạng dưỡng chất thay vì chỉ gò bó vào ngũ cốc. Khoa học hiện đại cho thấy kiểm soát đường huyết hiệu quả không nằm ở việc kiêng khem cực đoan mà ở chất lượng thực phẩm và sự cân bằng [1], [2].

Cơ chế tác động lên đường huyết

Thực dưỡng cổ điển Ohsawa thường nhấn mạnh vào tỷ lệ rất cao của gạo lứt và hạn chế tối đa các nhóm thực phẩm khác. Cách ăn đơn điệu này dễ gây thiếu hụt chất béo lành mạnh và protein thiết yếu [1], [3]. Trong khi đó, các mô hình thực dưỡng biến thể hiện đại như Ma-Pi 2 kết hợp ngũ cốc nguyên hạt với rau củ và đậu [4], [2].

Thực phẩm giàu chất xơ đòi hỏi nhai nhiều hơn, làm chậm quá trình ăn, tăng thể tích dạ dày và làm chậm tốc độ làm rỗng dạ dày [2]. Nhờ đó, đường từ thức ăn hấp thu vào máu từ từ, tránh hiện tượng đường huyết tăng vọt sau ăn [2], [5]. Ngoài ra, ngũ cốc nguyên hạt và chất xơ đóng vai trò như prebiotic, hỗ trợ cải thiện các thông số chuyển hóa [2].

Chất béo lành mạnh thay thế chất béo bão hòa kết hợp với việc hạn chế carbohydrate tinh chế là chìa khóa của dinh dưỡng hiện đại [1]. Khi tỷ lệ bột đường được điều chỉnh phù hợp kèm đủ chất xơ, cơ thể cải thiện tình trạng kháng insulin rõ rệt [1], [5].

Các nghiên cứu can thiệp ngắn và trung hạn

Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã đánh giá tác động của chế độ thực dưỡng hiện đại Ma-Pi 2 đối với người mắc đái tháo đường tuýp 2. Khác với thực dưỡng Ohsawa gò bó số 7 chỉ ăn gạo lứt muối mè, chế độ Ma-Pi 2 cung cấp năng lượng từ ngũ cốc nguyên hạt, rau củ và các loại đậu [4], [2].

Một thử nghiệm can thiệp dinh dưỡng kéo dài 6 tháng tại Cuba trên 16 người trưởng thành mắc đái tháo đường tuýp 2 có đường huyết kiểm soát kém (HbA1c > 8,5%) mang lại kết quả tích cực [4]. Toàn bộ người tham gia đã ngưng được insulin, chỉ còn 25% tiếp tục dùng glibenclamide [4]. Đường huyết trung bình giảm 63,8% và HbA1c giảm 54,5% [4]. Mỡ máu cải thiện rõ rệt: cholesterol toàn phần giảm 16,4%, LDL giảm 22,7%, triglyceride giảm 37% và HDL tăng 97,8% [4].

Một nghiên cứu khác thực hiện trên 65 người bệnh đái tháo đường tuýp 2 tại Cuba gồm 21 ngày can thiệp tại viện và theo dõi tại nhà đến 3 tháng (54 người hoàn thành) [6]. Lượng năng lượng khẩu phần cao hơn 200 kcal nhờ tăng tinh bột phức và chất xơ dù giảm chất béo và đạm [6]. Huyết áp và các chỉ số sinh hóa máu giảm rõ rệt ở cả hai giai đoạn, lượng tiêu thụ insulin giảm lần lượt 46% và 64% [6].

Tại thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng MADIAB trong 21 ngày, chế độ Ma-Pi 2 được so sánh trực tiếp với chế độ ăn chuẩn theo khuyến cáo dành cho bệnh nhân đái tháo đường [5]. Kết quả cho thấy nhóm ăn Ma-Pi 2 giảm đường huyết lúc đói, đường huyết sau ăn và chỉ số HbA1c vượt trội so với nhóm chứng [5]. Tình trạng kháng insulin, cân nặng, vòng eo, vòng hông và mỡ máu LDL cũng giảm mạnh hơn ở nhóm Ma-Pi 2 [5].

Lợi ích chuyển hóa và kháng viêm

Chế độ ăn dựa trên thực dưỡng hiện đại đem lại tiềm năng kháng viêm đáng kể. Khi phân tích thực đơn thực dưỡng theo Kushi Institute so với dữ liệu khảo sát dinh dưỡng quốc gia Hoa Kỳ (NHANES 2009-2010), thực đơn thực dưỡng có chỉ số viêm (DII) ở mức -1,88, biểu thị tính kháng viêm vượt trội so với mức 1,00 của chế độ ăn thông thường [7].

Bên cạnh đó, các mô hình thực dưỡng biến thể có nhiều điểm chung với chế độ ăn kiểu Okinawa kết hợp Bắc Âu: giàu ngũ cốc nguyên hạt, nhiều rau, đậu và không thêm đường [2]. Chế độ ăn này hỗ trợ giảm nồng độ insulin và cải thiện tình trạng kháng insulin liên quan mật thiết đến việc giảm các adipokine [2].

Nghiên cứu cũng ghi nhận sự sụt giảm đồng thời của huyết áp tâm thu và nồng độ resistin [2]. Việc thay đổi tính chất vật lý của thức ăn qua việc ăn thực phẩm nguyên bản, giảm chỉ số GI và giảm thực phẩm chế biến sẵn giữ vai trò trọng yếu hơn là sự đong đếm cứng nhắc tỷ lệ các chất dinh dưỡng [2].

Nguy cơ thiếu hụt vi chất từ ăn thực dưỡng gò bó

Mặc dù có nhiều mặt tích cực đối với đường huyết, chế độ thực dưỡng nếu thực hiện quá nghiêm ngặt sẽ mang lại rủi ro sức khỏe lớn. Điển hình là tình trạng thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể không thể tự tổng hợp.

Phân tích dinh dưỡng cho thấy thực đơn thực dưỡng thường không đáp ứng đủ nhu cầu khuyến nghị (RDA) đối với vitamin D, vitamin B12 và canxi [7]. Ngay cả trong thử nghiệm Ma-Pi 2 kéo dài 6 tháng kiểm soát tốt đường huyết, chế độ ăn vẫn thiếu hụt vitamin B12 dù các chỉ số an toàn như hemoglobin, albumin duy trì ổn định [4].

Hậu quả của việc ăn thực dưỡng gò bó, kiêng khem cực đoan được phản ánh rất rõ qua các nghiên cứu trên trẻ nhỏ. Một nghiên cứu theo dõi 53 trẻ ăn thực dưỡng và 57 trẻ ăn thông thường từ 4 đến 18 tháng tuổi tại Hà Lan cho thấy trẻ ăn thực dưỡng bắt đầu ăn dặm chủ yếu bằng bột ngũ cốc nấu nước, ít ăn hoa quả và tránh đạm động vật [3]. Hậu quả là năng lượng, đạm, chất béo, canxi, riboflavin và vitamin B12 ở nhóm này thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng [3]. Lượng protein ở trẻ 6-8 tháng tuổi chỉ đạt 80% mức khuyến nghị [3].

Nghiên cứu công bố năm 1991 tiếp tục chỉ ra tình trạng chậm lớn, còi cọc nghiêm trọng nhất ở giai đoạn 8-14 tháng tuổi do chế độ ăn quá nghèo năng lượng, chất béo và chất đạm [8]. Xét nghiệm máu cho thấy nồng độ vitamin B12 rất thấp, kèm theo giảm hematocrit, giảm số lượng hồng cầu và 15% trẻ bị thiếu sắt [8].

Hiểu lầm thường gặp về thực dưỡng và đường huyết

Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng chỉ cần ăn 100% gạo lứt muối mè theo phương pháp Ohsawa cổ điển thì đái tháo đường sẽ tự khỏi. Khoa học chứng minh không có chế độ ăn nào có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh đái tháo đường [4], [5]. Việc loại bỏ hoàn toàn các nhóm đạm và chất béo lành mạnh chỉ khiến cơ thể suy kiệt, teo cơ và thiếu máu [8], [3].

Quan niệm dinh dưỡng hiện đại đã thay đổi hoàn toàn so với các giả định cũ. Trước đây tinh bột được đề cao, chất béo bị coi là xấu và chất đạm ít được chú trọng [1]. Hiện nay, các hiệp hội khuyến cáo dinh dưỡng cho người đái tháo đường cần cá nhân hóa dựa trên chỉ số BMI, mức độ kháng insulin, HbA1c và mỡ máu của từng cá nhân [1]. Việc cắt giảm tinh bột tinh chế, ưu tiên chất béo không bão hòa đơn và đa (MUFA, PUFA) cùng đủ chất xơ mới là xu thế đúng đắn [1].

Đối tượng cần hết sức thận trọng

Không phải ai cũng có thể tùy tiện áp dụng chế độ ăn dạng thực dưỡng. Những nhóm người sau cần đặc biệt lưu ý để tránh nguy hiểm:

Trẻ nhỏ và thanh thiếu niên đang trong độ tuổi phát triển tuyệt đối không áp dụng chế độ thực dưỡng đơn điệu vì nguy cơ còi cọc, chậm tăng trưởng và thiếu máu nghiêm trọng [8], [3]. Phụ nữ mang thai và cho con bú cũng cần nguồn vi chất dồi dào, việc kiêng khem ngũ cốc gò bó sẽ gây thiếu hụt vitamin B12, canxi và sắt [7], [8], [3].

Người mắc đái tháo đường đang sử dụng insulin hoặc thuốc hạ đường huyết như glibenclamide không được tự ý đổi sang thực dưỡng đột ngột [4], [6]. Việc giảm nhanh lượng bột đường tinh chế mà không chỉnh liều thuốc có thể dẫn tới hạ đường huyết cấp tính. Người bệnh cần thảo luận cùng bác sĩ chuyên khoa để điều chỉnh thuốc kịp thời khi thay đổi khẩu phần [4], [6].

Áp dụng thực dưỡng linh hoạt vào đời sống

Để hưởng lợi ích ổn định đường huyết mà không bị suy dinh dưỡng, người bệnh nên tiếp cận theo hướng thực dưỡng hiện đại:

Thay vì chỉ ăn mỗi gạo lứt, hãy kết hợp phong phú ngũ cốc nguyên hạt với các loại đậu và thật nhiều rau củ [4], [2]. Tận dụng chất xơ tự nhiên để tạo cảm giác no lâu, làm chậm hấp thu đường [2]. Hạn chế tối đa đường bổ sung và các loại thực phẩm siêu chế biến [2].

Cân đối các nhóm dưỡng chất bằng cách bổ sung chất béo tốt có nguồn gốc thực vật hoặc cá béo, tránh kiêng khem chất béo cực đoan [1], [3]. Đảm bảo lượng đạm cần thiết để duy trì khối lượng cơ nạc [4], [1].

Chú ý bổ sung các vi chất thường thiếu hụt trong chế độ ăn thực dưỡng kéo dài như vitamin B12, vitamin D và canxi [4], [7]. Nên nhai kỹ thức ăn để hỗ trợ quá trình tiêu hóa và kích thích các thụ thể no tự nhiên [2].

Chế độ ăn cho người đái tháo đường cần được cá nhân hóa linh hoạt, dựa trên các thông số chuyển hóa và thể trạng thực tế chứ không nên rập khuôn theo một công thức cứng nhắc [1]. Hãy luôn tham vấn bác sĩ điều trị trước khi thay đổi thực đơn hàng ngày.