Cây ban âu (tên khoa học là Hypericum perforatum, tên tiếng Anh là St. John’s wort) từ nhiều thế kỷ qua đã được ứng dụng phổ biến như một phương thuốc thảo dược truyền thống [1]. Trong đời sống hiện đại, người tiêu dùng thường tìm đến loại thảo mộc này để cải thiện tâm trạng, xoa dịu căng thẳng thần kinh dưới hai dạng dùng quen thuộc: trà thảo mộc túi lọc tự pha hãm và viên nang chiết xuất chuẩn hóa. Nhiều người băn khoăn liệu việc uống một tách trà thảo mộc thơm nhẹ có đem lại tác dụng tương đương với việc sử dụng viên nang chiết xuất đã qua chế biến hay không.
Nếu xét dưới góc độ khoa học và hiệu quả cải thiện tâm trạng, viên nang chiết xuất chuẩn hóa vượt trội hoàn toàn so với trà túi lọc dạng thô. Các thử nghiệm lâm sàng ghi nhận hiệu quả lâm sàng của cây ban âu đều sử dụng dạng chiết xuất chuẩn hóa với nồng độ hoạt chất rõ ràng, trong khi trà pha từ dược liệu thô có độ biến động hoạt chất rất lớn và các hợp chất chính khó tan trong nước.
Vì sao viên chiết xuất chuẩn hóa chiếm ưu thế trước trà túi lọc?
Dược liệu thô dùng trong trà túi lọc phụ thuộc rất lớn vào nguồn gốc thu hái, cách bảo quản và phương pháp chế biến. Khảo sát mẫu trà cây ban âu thu thập từ các chợ địa phương, nhà thuốc và cửa hàng thực phẩm sức khỏe tại vùng Balkan, Áo và Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy có sự biến thiên đáng kể về hàm lượng các hoạt chất như hypericin, hyperforin, rutin, quercetin, axit gallic, axit chlorogenic, axit caffeic và axit p-hydroxybenzoic [2]. Điều này đồng nghĩa với việc mỗi gói trà bạn mua có thể mang một lượng hoạt chất chênh lệch nhau rất xa.
Hơn thế nữa, các nghiên cứu hóa thực vật chỉ ra rằng những hoạt chất chủ chốt mang đặc tính chống trầm cảm của cây ban âu, đặc biệt là nhóm hypericin, lại rất khó hòa tan trong nước ngoại trừ ở nhiệt độ cao và chỉ tan với tỷ lệ vô cùng nhỏ [3]. Khi nghiên cứu về các sản phẩm trà thương mại bày bán trên thị trường, nồng độ các hợp chất đánh dấu (marker compounds) gồm hypericin, pseudohypericin, hyperforin và adhyperforin dao động từ 10 ng/mL đến 1044 ng/mL trong nước trà đã pha [4]. Việc hoạt chất dao động tới hơn một trăm lần giữa các mẫu trà cho thấy việc kiểm soát liều lượng thông qua đường uống trà thô là điều bất khả thi trên thực tế.
Ngược lại, dạng viên nang thường sử dụng chiết xuất cồn - nước đã qua tiêu chuẩn hóa (như mẫu chiết xuất LI-160) [5]. Quá trình chiết xuất công nghiệp bằng dung môi hữu cơ kết hợp nước giúp thu hồi tối đa các hợp chất tan kém trong nước như hypericin hay hyperforin, mang lại hàm lượng ổn định và sinh khả dụng dự đoán được cho cơ thể [3].
Cơ chế tác động của hoạt chất cây ban âu lên hệ thần kinh
Cây ban âu là một trong những loài thảo dược được khảo sát hóa thực vật kỹ lưỡng nhất hiện nay [6]. Trong nguyên liệu thô của cây, giới nghiên cứu đã phát hiện một loạt hợp chất có hoạt tính sinh học bao gồm các dẫn xuất flavonol, biflavone, proanthocyanidine, xanthone, phloroglucinol và naphthodianthrone [6].
Về mặt sinh học thần kinh, các dữ liệu ban đầu từng ghi nhận chiết xuất cây ban âu chỉ ức chế yếu hoạt tính enzyme monoamine oxidase-A và B (MAO-A và MAO-B) [6]. Tuy nhiên, chiết xuất này lại ức chế sự tái hấp thu synapse đối với serotonin, dopamine và noradrenaline với ái lực gần như tương đương nhau [6]. Ngoài ra, các thử nghiệm gắn kết in vitro cho thấy chiết xuất cây ban âu có ái lực đáng kể với các thụ thể adenosine, GABA(A), GABA(B) và glutamate [6].
Trên mô hình động vật sống, chiết xuất cây ban âu làm giảm mật độ thụ thể beta-adrenergic và tăng mật độ thụ thể serotonin 5-HT(2) ở vỏ não trước trán của chuột cống, đồng thời làm thay đổi nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh tại các vùng não liên quan đến trầm cảm [6]. Trong thử nghiệm bơi cưỡng bức ở chuột cống, chiết xuất này làm giảm đáng kể thời gian bất động [6]. Ở các mô hình căng thẳng cấp và mạn tính khác, chiết xuất cây ban âu bảo vệ chuột cống trước hậu quả của stress không thể tránh khỏi và can thiệp vào cơ chế điều hòa biểu hiện gen kiểm soát trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận [6].
Mặt khác, các dịch chiết cồn - nước từ trà cây ban âu cũng thể hiện tiềm năng sinh học đáng chú ý khi ức chế enzyme MAO-A với giá trị trung vị IC50 đạt 10,01 mcg/mL và ức chế enzyme alpha-glucosidase với trung vị IC50 đạt 12,40 mcg/mL [2]. Các dịch chiết này còn có khả năng trung hòa mạnh gốc tự do hydroxyl và nitroso, cùng mức ức chế vừa phải đối với quá trình peroxy hóa lipid [2]. Dù vậy, để các cơ chế này phát huy hiệu quả trên người, cơ thể đòi hỏi một lượng hoạt chất ổn định và đủ ngưỡng hấp thu.
Các nghiên cứu lâm sàng nói gì về hiệu quả thực tế?
Hàng chục thử nghiệm lâm sàng với chất lượng khác nhau đã được thực hiện để đánh giá giá trị điều trị của cây ban âu [1]. Hầu hết các dữ liệu y khoa giá trị cao đều tập trung vào dạng chiết xuất tiêu chuẩn hóa thay vì trà uống thông thường.
Một tổng quan hệ thống công bố năm 2000 đã chọn lọc và đánh giá 8 nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên, mù đôi có chất lượng phương pháp tốt [7]. Kết quả tổng hợp cung cấp lượng dữ liệu khiêm tốn cho thấy cây ban âu hiệu quả hơn giả dược trong điều trị trầm cảm mức độ nhẹ đến trung bình [7]. Tỷ lệ đáp ứng điều trị tăng tuyệt đối khi dùng cây ban âu dao động từ 23% đến 55% so với giả dược [7]. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn từ 6% đến 18% khi đặt lên bàn cân so sánh với các thuốc chống trầm cảm ba vòng cổ điển [7].
Đến năm 2005, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi đã so sánh trực tiếp hiệu quả giữa chiết xuất chuẩn hóa cây ban âu LI-160 liều 900 mg/ngày, thuốc chống trầm cảm fluoxetine 20 mg/ngày và giả dược trong vòng 12 tuần trên 135 bệnh nhân rối loạn trầm cảm nặng [5]. Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân tham gia là 37,3 tuổi và 57% là nữ giới [5]. Điểm số thang đánh giá trầm cảm Hamilton (HAMD-17) trung bình ở thời điểm bắt đầu là 19,7 [5].
Kết quả sau 12 tuần cho thấy nhóm dùng chiết xuất cây ban âu đạt điểm HAMD-17 trung bình cuối kỳ là 10,2 (ở 45 bệnh nhân), thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với mức 13,3 của nhóm dùng fluoxetine (ở 47 bệnh nhân, p < 0,03) và có xu hướng tốt hơn so với mức 12,6 của nhóm giả dược (ở 43 bệnh nhân, p = 0,096) [5]. Tỷ lệ thuyên giảm bệnh (HAMD-17 dưới 8 điểm) ở nhóm dùng chiết xuất ban âu đạt 38%, cao hơn so với 30% ở nhóm fluoxetine và 21% ở nhóm giả dược [5]. Chiết xuất thảo dược này được dung nạp tốt và an toàn trong suốt thời gian theo dõi [5].
Nhiều phân tích gộp sau đó cũng khẳng định các chiết xuất cây ban âu hiệu quả hơn giả dược ở bệnh nhân trầm cảm nhẹ và trung bình, đồng thời có hiệu quả tương đương thuốc chống trầm cảm ba vòng và nhóm ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin [1]. Dẫu vậy, các bằng chứng hiện tại vẫn chưa đủ cơ sở để xác định hiệu quả của thảo dược này ở những bệnh nhân trầm cảm mức độ nặng hơn [1].
Giới hạn và sự phân hủy của hoạt chất trong thực phẩm, đồ uống
Một trong những hạn chế lớn nhất của việc dùng cây ban âu dạng trà hoặc đồ uống chức năng là tính kém bền của hoạt chất. Khi phân tích các loại đồ uống thương mại có công bố chứa cây ban âu, các nhà nghiên cứu không tìm thấy các hợp chất đánh dấu nào tồn tại [4]. Nguyên nhân được xác định là do các hoạt chất chính đã bị phân hủy bởi độ pH thấp trong đồ uống đóng chai hoặc do tiếp xúc với ánh sáng [4]. Tương tự, hai mẫu thực phẩm chức năng dạng rắn được phân tích trong nghiên cứu này cũng hoàn toàn không phát hiện thấy thành phần đặc trưng của cây ban âu [4].
Đối với việc pha chế trà tại nhà, nghiên cứu so sánh các phương pháp chiết xuất bằng nước cho thấy việc hãm thảo mộc vào nước sôi trong 20 phút cho hiệu suất thu hồi hoạt chất cao hơn so với việc đun sôi liên tục suốt 3 giờ [3]. Tuy nhiên, các phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC-DAD cho thấy phổ của dịch chiết nước ở bước sóng 590 nm phản ánh lượng hypericin rất thấp [3]. Hypericin là thành phần tạo nên màu đỏ đặc trưng và có hoạt tính quan trọng, nhưng nó hầu như không hòa tan trong nước nếu không có nhiệt độ rất cao và tỷ lệ tan thực tế chỉ ở mức tối thiểu [3]. Do đó, người uống trà túi lọc chủ yếu hấp thu được các chất chống oxy hóa hòa tan trong nước, còn các hoạt chất đích điều hòa dẫn truyền thần kinh thì rất hạn chế.
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng cây ban âu
Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "thảo dược tự nhiên thì an toàn tuyệt đối và không có tác dụng phụ". Dù tỷ lệ tác dụng phụ của cây ban âu nhìn chung ở mức thấp và đa phần là nhẹ, người dùng vẫn có thể đối mặt với một nguy cơ nhỏ bị hội chứng serotonin hoặc hiện tượng da nhạy cảm với ánh sáng [1].
Hiểu lầm thứ hai là xem trà túi lọc cây ban âu như một giải pháp thay thế thuốc kê đơn để chữa bệnh trầm cảm. Về mặt thực hành lâm sàng, cây ban âu không phải là phương pháp điều trị thích hợp cho bệnh trầm cảm nặng [1]. Dạng chiết xuất chuẩn hóa chỉ là một lựa chọn có thể chấp nhận được để kiểm soát ngắn hạn tình trạng tâm trạng suy sụp thoáng qua khi không có nguy cơ tương tác thuốc [1]. Tự ý dùng trà túi lọc để điều trị bệnh lý tâm thần có thể làm mất đi thời gian vàng can thiệp y tế chuyên khoa.
Hiểu lầm thứ ba là cho rằng có thể uống trà hay viên nang cây ban âu chung với bất kỳ loại thuốc tây nào. Ngược lại với suy nghĩ này, bảng cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ của cây ban âu thực tế không hề vượt trội hơn các thuốc chống trầm cảm tiêu chuẩn, nguyên nhân chính là do nguy cơ tương tác thuốc rất lớn [1].
Ai nên đặc biệt thận trọng với loại thảo dược này?
Vấn đề nghiêm trọng nhất của cây ban âu nằm ở khả năng làm thay đổi chuyển hóa của các thuốc điều trị thông thường. Một số thành phần trong cây ban âu can thiệp mạnh vào CYP3A4, một trong những isoenzyme cytochrome P450 chính của gan chịu trách nhiệm chuyển hóa nhiều loại thuốc thông dụng [1].
Một đánh giá hệ thống trên 22 thử nghiệm dược động học lâm sàng (trung bình 12 người tham gia mỗi thử nghiệm, gồm 17 thử nghiệm trên người tình nguyện khỏe mạnh và 5 thử nghiệm trên bệnh nhân) đã xác nhận nguy cơ này [8]. Trong số 19 thử nghiệm có sẵn dữ liệu nồng độ thuốc trong huyết tương, có tới 17 thử nghiệm ghi nhận cây ban âu làm sụt giảm sinh khả dụng toàn thân của thuốc dùng kèm [8]. Thậm chí có 7 nghiên cứu ghi nhận khoảng tin cậy 95% loại trừ mức giảm dưới 20%, chứng minh mức độ suy giảm nồng độ thuốc trong máu là rất rõ rệt [8].
Cây ban âu làm giảm hiệu lực của nhiều nhóm thuốc thiết yếu bao gồm:
- Thuốc ức chế miễn dịch: làm tăng nguy cơ thải ghép ở người ghép tạng [1].
- Thuốc tránh thai đường uống: làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn [1].
- Thuốc chống đông máu đường uống: làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối [1].
- Thuốc ức chế protease điều trị HIV [1].
- Thuốc trợ tim digoxin: cây ban âu làm giảm sinh khả dụng của digoxin trong máu [1].
Do đó, những người đang sử dụng bất kỳ loại thuốc điều trị nào kể trên, người bệnh chuẩn bị phẫu thuật, phụ nữ đang dùng thuốc tránh thai hoặc người có bệnh nền tim mạch tuyệt đối không được tự ý sử dụng cây ban âu dưới mọi hình thức nếu chưa có chỉ định của bác sĩ.
Lời khuyên áp dụng thực tế an toàn
Nếu mục tiêu của bạn chỉ là tìm kiếm một thức uống thảo mộc ấm áp để thư giãn sau giờ làm việc, trà túi lọc cây ban âu có thể đáp ứng được nhu cầu này nhờ chứa các polyphenol và chất chống oxy hóa tự nhiên [2]. Khi pha trà, nên dùng nước sôi già và hãm thảo mộc kín trong khoảng 20 phút để tối ưu lượng hoạt chất chiết tách ra nước [3]. Tránh đun sôi dược liệu quá lâu trên bếp vì có thể làm suy giảm chất lượng dịch chiết [3]. Tuyệt đối không kỳ vọng trà túi lọc sẽ chữa khỏi tình trạng trầm cảm hay rối loạn lo âu kéo dài.
Nếu bạn đang gặp phải các triệu chứng sa sút tâm trạng thoáng qua và có ý định dùng viên nang chuẩn hóa, liều lượng từng được nghiên cứu lâm sàng ghi nhận hiệu quả là 900 mg chiết xuất chuẩn hóa mỗi ngày (như dịch chiết LI-160 chia làm các lần uống) [5]. Tuy nhiên, trước khi bắt đầu, điều tối quan trọng là phải kiểm tra lại toàn bộ danh mục thuốc bạn đang dùng cùng bác sĩ hoặc dược sĩ chuyên môn để loại trừ triệt để nguy cơ tương tác qua men gan CYP3A4 [1]. Luôn bảo quản các sản phẩm từ cây ban âu ở nơi khô ráo, tránh ánh sáng trực tiếp vì các phân tử hoạt tính rất nhạy cảm với quang học và độ pH [4].
Kết luận
Trà túi lọc và viên nang cây ban âu mang lại những giá trị sử dụng hoàn toàn khác biệt. Viên nang chiết xuất chuẩn hóa là dạng bào chế duy nhất có đủ bằng chứng lâm sàng về hiệu quả cải thiện tâm trạng nhờ nồng độ hoạt chất ổn định và sinh khả dụng cao, trong khi trà túi lọc chỉ đóng vai trò như một thức uống thảo mộc thông thường. Dù lựa chọn dạng dùng nào, việc tham vấn nhân viên y tế là nguyên tắc bắt buộc để phòng ngừa những tương tác thuốc nguy hiểm tiềm ẩn.
