Nhiều người có thói quen bắt đầu buổi sáng bằng một ly cà phê đen để tìm kiếm sự tỉnh táo. Khi tình trạng gan nhiễm mỡ ngày càng phổ biến trong đời sống hiện đại, không ít người thắc mắc liệu thức uống quen thuộc này có thực sự giúp giảm mỡ trong gan hay không.
Các bằng chứng khoa học cho thấy uống cà phê đen điều độ có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và hạn chế tổn thương xơ hóa gan tiến triển [1] [2]. Tuy nhiên, cà phê chỉ đóng vai trò hỗ trợ kết hợp cùng lối sống lành mạnh chứ không phải là thuốc điều trị đặc hiệu để loại bỏ hoàn toàn mỡ trong gan [3] [4].
Cơ chế tác động lên tế bào gan
Gan nhiễm mỡ không do rượu là tình trạng bệnh lý phổ biến trên toàn cầu, với tỷ lệ hiện mắc ước tính khoảng 24% trong dân số chung và lên tới 60% ở những bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính [4]. Bệnh lý này bao gồm một phổ tổn thương mô học rộng, từ tích tụ mỡ đơn thuần trong tế bào gan cho đến viêm gan thoái hóa mỡ kèm theo tình trạng viêm tiểu thùy và xơ hóa gan [5]. Cà phê chứa nhiều hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học, nổi bật là các polyphenol chống oxy hóa và caffeine [3] [6].
Về mặt sinh học phân tử, các hoạt chất trong cà phê tác động lên nhiều con đường chuyển hóa nội bào [6]. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy việc dung nạp cà phê làm gia tăng sự biểu hiện của các protein đóng vai trò bảo vệ cấu trúc tế bào lưới nội chất như protein liên quan glucose 78 (GRP78) và protein disulfide-isomerase A3 [6]. Đồng thời, các protein chaperone trong ty thể như heat stress protein 70 và DJ-1 cũng được tăng cường biểu hiện, giúp đảm bảo quá trình cuộn gấp và phân hủy protein diễn ra bình thường trong gan [6].
Bên cạnh đó, cà phê kích hoạt các chất điều hòa trung tâm của trạng thái cân bằng oxy hóa khử bao gồm peroxiredoxin 1, glutathione S-transferase alpha 2 và D-dopachrome tautomerase [6]. Sự gia tăng này dẫn đến sự sụt giảm các chỉ dấu phá hủy tế bào do oxy hóa như 8-isoprostanes và 8-hydroxy-2'-deoxyguanosine [6]. Cà phê còn liên quan đến việc ức chế tiểu đơn vị alpha flavoprotein vận chuyển điện tử, một thành phần của chuỗi hô hấp tế bào ty thể tham gia trực tiếp vào quá trình tổng hợp mỡ mới nội sinh [6]. Ở mức độ chuyển hóa hệ thống, việc tiêu thụ cà phê làm tăng nồng độ adiponectin trong máu, một loại hormone có nguồn gốc từ mô mỡ đóng vai trò cải thiện tình trạng rối loạn chức năng gan [4].
Nghiên cứu chỉ ra điều gì về men gan và mỡ gan?
Để làm rõ lợi ích của cà phê trên mô hình sống, một nghiên cứu công bố năm 2014 đã tiến hành thử nghiệm trên chuột được cho ăn chế độ ăn giàu chất béo liên tục trong 12 tuần [6]. Động vật thí nghiệm được chia thành nhóm sử dụng cà phê espresso đã tách caffeine (decaffeinated) hoặc đối chứng bằng nước trắng [6]. Kết quả phân tích proteomic cho thấy nhóm chuột chỉ ăn chất béo và uống nước phát triển tình trạng thoái hóa mỡ toàn nang, viêm tiểu thùy và xơ hóa nhẹ [6]. Ngược lại, nhóm chuột được bổ sung cà phê chỉ xuất hiện tình trạng thoái hóa mỡ ở mức độ nhẹ [6]. Thử nghiệm này chỉ ra rằng các chất chống oxy hóa tự nhiên ngoài caffeine cũng có thể mang lại hiệu quả bảo vệ tế bào gan [6].
Trên lâm sàng ở người, một nghiên cứu bệnh chứng thực hiện tại Bệnh viện Đại học ở Thành phố Mexico năm 2012 đã so sánh 73 bệnh nhân mắc gan nhiễm mỡ không do rượu được chẩn đoán qua siêu âm với 57 người khỏe mạnh [3]. Kết quả cho thấy nhóm bệnh nhân gan nhiễm mỡ có chỉ số khối cơ thể (BMI), nồng độ đường huyết, nồng độ insulin và chỉ số kháng insulin HOMA-IR cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng [3]. Phân tích thói quen ăn uống ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về lượng tiêu thụ cà phê giữa hai nhóm, trong đó việc uống lượng cà phê lớn có liên quan đến việc giảm mức độ gan nhiễm mỡ [3]. Dù vậy, nghiên cứu này không tìm thấy sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm về hoạt tính của các enzym chống oxy hóa ngoại vi như catalase (0,39 +- 0,74 so với 0,28 +- 0,69 nM/phút/mL), superoxide dismutase (5,4 +- 3,45 so với 4,7 +- 2,1 U/mL) hay chất phản ứng với axit thiobarbituric (4,05 +- 1,87 so với 3,94 +- 1,59 microM/mL) [3].
Mối liên quan giữa lượng dùng và nguy cơ bệnh được tổng hợp trong một phân tích gộp liều-đáp ứng năm 2019 từ 7 công trình nghiên cứu, bao gồm dữ liệu của 4.825 bệnh nhân mắc gan nhiễm mỡ và 49.616 người không mắc bệnh [2]. Khi so sánh với mức tiêu thụ dưới 1 tách mỗi ngày, việc uống 1-2 tách hoặc trên 2 tách mỗi ngày không làm giảm nguy cơ mắc bệnh có ý nghĩa thống kê, với tỷ số nguy cơ tương đối (RR) lần lượt là 0,97 (khoảng tin cậy 95% CI: 0,85-1,11) và 0,88 (95% CI: 0,72-1,06) [2]. Tuy nhiên, khi so sánh nhóm có lượng tiêu thụ cao nhất với nhóm thấp nhất, nguy cơ mắc gan nhiễm mỡ giảm 6% (RR gộp: 0,94; 95% CI: 0,92-0,97) [2]. Đường cong liều-đáp ứng phi tuyến tính chỉ ra rằng chỉ khi lượng tiêu thụ vượt trên 3 tách mỗi ngày thì nguy cơ mắc gan nhiễm mỡ mới giảm đi một cách rõ rệt [2].
Một khảo sát dịch tễ học quy mô lớn năm 2021 trên người trưởng thành tại Hàn Quốc thuộc nghiên cứu Health Examinees cũng củng cố xu hướng này bằng việc theo dõi các chỉ số không xâm lấn gồm chỉ số gan nhiễm mỡ (FLI), chỉ số thoái hóa mỡ gan (HSI) và thang điểm xơ hóa FIB-4 [7]. Phân tích cắt ngang cho thấy thói quen uống cà phê nhiều giúp giảm tỷ lệ mắc gan nhiễm mỡ theo chỉ số FLI ở cả nam giới (tỷ số chênh OR = 0,702) và nữ giới (OR = 0,810) so với người không uống [7]. Đáng chú ý, những người tiêu thụ cà phê có đường và bột kem cũng ghi nhận tỷ lệ rủi ro thấp hơn khi đánh giá qua chỉ số FIB-4 (nam giới: OR = 0,739; nữ giới: OR = 0,807) [7]. Trong phân tích theo dõi tiến cứu, tiêu thụ nhiều cà phê tiếp tục liên quan đến việc giảm tỷ lệ mới mắc bệnh gan nhiễm mỡ theo FLI ở nam giới với tỷ số nguy cơ HR là 0,706 [7]. Nghiên cứu kết luận mức tiêu thụ trên 3 tách mỗi ngày mang lại hiệu quả bảo vệ rõ ràng trước sự hình thành gan nhiễm mỡ [7].
Về tiến triển xơ hóa, một nghiên cứu năm 2015 tiến hành trên 782 bệnh nhân trưởng thành thuộc Mạng lưới Nghiên cứu Lâm sàng Viêm gan thoái hóa mỡ không do rượu (NASH CRN) giai đoạn 2004-2008 [5]. Trong số này, 38% là nam giới, độ tuổi trung bình là 48 +- 12 tuổi, trung vị BMI là 33,5 kg/m2, 79% mắc viêm gan thoái hóa mỡ và 25% đã có xơ hóa gan tiến triển [5]. Phân bố lượng tiêu thụ cà phê hàng ngày ghi nhận 29% không uống, 28% uống dưới 1 tách, 15% uống từ 1 đến dưới 2 tách và 28% uống từ 2 tách trở lên mỗi ngày [5]. Các tác giả phát hiện mức độ tác động của cà phê phụ thuộc vào tình trạng kháng insulin của bệnh nhân (chỉ số tương tác p = 0,001) [5]. Ở nhóm bệnh nhân có chỉ số kháng insulin thấp (HOMA-IR < 4,3), uống cà phê giúp giảm đáng kể nguy cơ bị xơ hóa tiến triển (OR = 0,64; 95% CI: 0,46-0,88; p = 0,001) [5]. Ngược lại, ở những cá nhân có tình trạng kháng insulin nặng hơn (HOMA-IR >= 4,3), cà phê không còn mang lại tác dụng bảo vệ trước nguy cơ xơ hóa (OR = 1,06; 95% CI: 0,87-1,28; p = 0,6) [5].
Đối với các chỉ số men gan trong máu, dữ liệu hiện tại còn có sự khác biệt giữa các phương pháp nghiên cứu [1] [4] [8]. Một đánh giá tổng quan hệ thống năm 2014 ghi nhận việc tiêu thụ cà phê có liên quan đến việc cải thiện nồng độ men gan bao gồm gamma glutamyltransferase (GGT), aspartate aminotransferase (AST) và alanine aminotransferase (ALT) theo cách thức phụ thuộc vào liều lượng ở những người có nguy cơ mắc bệnh gan [1]. Cà phê cũng làm giảm tỷ lệ tiến triển thành xơ gan, giảm tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân xơ gan và giảm nguy cơ phát triển ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) [1] [8]. Mức độ tiêu thụ trên 2 tách mỗi ngày ở những người có sẵn bệnh gan đã được ghi nhận làm giảm tỷ lệ xơ hóa, xơ gan và giảm tỷ lệ tử vong chung [8].
Tuy nhiên, một phân tích gộp công bố năm 2022 tổng hợp từ 14 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) trên 897 đối tượng lại cho thấy tiêu thụ cà phê không tạo ra thay đổi có ý nghĩa thống kê lên các chỉ số men gan tuần hoàn [4]. Cụ thể, mức chênh lệch trung bình có trọng số (WMD) của ALT là -0,89 mg/mL (p = 0,39), AST là -0,29 mg/mL (p = 0,55), GGT là 0,10 mg/mL (p = 0,96), phosphatase kiềm (ALP) là -4,60 mg/mL (p = 0,05) và lactate dehydrogenase là -0,65 mg/mL (p = 0,90) [4]. Điểm tích cực duy nhất là cà phê giúp làm tăng nồng độ adiponectin trong huyết thanh với mức chênh lệch 1,19 mg/mL (95% CI: 0,08-2,31; p = 0,04) [4].
Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng
Tổng hợp các dữ liệu cho thấy việc sử dụng cà phê có mối liên hệ nghịch với mức độ nghiêm trọng của bệnh lý gan nhiễm mỡ và tình trạng xơ hóa [1] [5]. Các nghiên cứu tổng quan dịch tễ học đều khuyến khích thói quen uống cà phê hàng ngày cho những người có bệnh gan mạn tính để hỗ trợ giảm nguy cơ biến chứng xơ gan hoặc ung thư gan [1] [8].
Mặc dù vậy, bằng chứng khoa học hiện tại vẫn tồn tại những ranh giới cần lưu ý [4] [2]. Phần lớn dữ liệu bảo vệ đến từ các nghiên cứu quan sát dịch tễ, nơi mối liên hệ thống kê có thể chưa thật sự chặt chẽ và cần thêm các nghiên cứu dài hạn để kiểm chứng [2]. Bên cạnh đó, khi đưa vào các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nghiêm ngặt, cà phê chưa cho thấy khả năng làm hạ các enzym gan thông thường như men ALT hay AST [4]. Tác dụng bảo vệ của cà phê trước biến chứng xơ gan cũng bị suy giảm hoặc biến mất nếu bệnh nhân có tình trạng đề kháng insulin quá nặng [5].
Những hiểu lầm thường gặp khi uống cà phê trị mỡ gan
Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần uống thật nhiều cà phê là có thể "rửa sạch" lượng mỡ tích tụ trong gan mà không cần quan tâm đến chế độ ăn uống [3] [5]. Trên thực tế, gan nhiễm mỡ liên quan mật thiết đến tình trạng thừa cân, béo phì và rối loạn chuyển hóa insulin [3] [5]. Cà phê hoàn toàn không thể triệt tiêu lượng mỡ dư thừa nếu người bệnh vẫn duy trì lối sống ít vận động và chế độ ăn dư thừa năng lượng [3] [5].
Một hiểu lầm khác là cà phê hòa tan chứa nhiều đường sữa có thể đem lại hiệu quả tương tự cà phê nguyên chất. Dù một số nghiên cứu dịch tễ tại Hàn Quốc ghi nhận người uống cà phê kèm đường và kem vẫn có chỉ số xơ hóa FIB-4 thấp hơn nhóm không uống [7], việc nạp quá nhiều đường tinh luyện và chất béo bão hòa từ các chất tạo ngọt sẽ làm tăng nguy cơ kháng insulin, gián tiếp vô hiệu hóa lợi ích bảo vệ mô gan của thức uống này [5]. Ngoài ra, việc dùng cà phê không thể thay thế các phác đồ điều trị hay sự theo dõi của bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa - gan mật [1] [4].
Những ai nên thận trọng?
Dù cà phê mang lại nhiều tiềm năng cho gan, một số nhóm đối tượng cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng thức uống này. Những người có tiền sử bệnh tim mạch, rối loạn nhịp tim hoặc tăng huyết áp không kiểm soát cần thận trọng với lượng caffeine nạp vào cơ thể [3]. Người bị viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày thực quản cũng có thể bị kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa khi uống cà phê đen đậm đặc.
Bệnh nhân mắc gan nhiễm mỡ kèm theo tình trạng đái tháo đường kiểm soát kém hoặc kháng insulin mức độ cao (chỉ số HOMA-IR từ 4,3 trở lên) không nên kỳ vọng cà phê sẽ ngăn chặn được xơ hóa gan tiến triển [5]. Phụ nữ mang thai hoặc những người đang sử dụng các loại thuốc chuyển hóa qua gan cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để xác định liều lượng phù hợp, tránh gây tương tác thuốc bất lợi.
Cách áp dụng thực tế để hỗ trợ gan
Để tận dụng các hợp chất có lợi trong cà phê, người trưởng thành có thể duy trì thói quen uống cà phê đen không đường hoặc hạn chế tối đa các chất phụ gia tạo ngọt [5] [7]. Các dữ liệu liều-đáp ứng cho thấy mức tiêu thụ mang lại sự khác biệt rõ rệt đối với việc giảm nguy cơ gan nhiễm mỡ thường nằm ở ngưỡng trên 2 đến trên 3 tách mỗi ngày [2] [7] [8].
Thời điểm uống thích hợp là vào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều sau bữa ăn để tránh ảnh hưởng đến giấc ngủ ban đêm và hạn chế gây cồn cào dạ dày. Nếu nhạy cảm với caffeine gây bồn chồn tim đập nhanh, người dùng có thể cân nhắc các dòng cà phê đã tách bớt caffeine (decaf), bởi các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy cà phê khử caffeine vẫn giữ được các chaperone bảo vệ tế bào và các chất chống oxy hóa quan trọng [6]. Quan trọng nhất, việc uống cà phê cần đi đôi với chế độ ăn cân bằng, giảm tinh bột tinh chế, kiểm soát cân nặng và duy trì vận động thể chất thường xuyên [3] [5].
Tóm lại, uống cà phê đen mỗi ngày có thể mang lại tác động hỗ trợ tích cực trong việc giảm nguy cơ mắc gan nhiễm mỡ và làm chậm tiến trình xơ hóa gan [1] [2] [7]. Tuy nhiên, cà phê chỉ phát huy giá trị tốt nhất khi được xem như một phần của lối sống lành mạnh tổng thể chứ không thể thay thế việc điều trị y khoa hay chế độ dinh dưỡng hợp lý [3] [4] [5]. Người có bệnh nền mạn tính nên chủ động thảo luận cùng bác sĩ để có kế hoạch chăm sóc sức khỏe an toàn nhất [4] [5].




