Nhiều người dân có thói quen hái các loại lá, rễ cây rừng về phơi khô sắc nước uống hàng ngày để bồi bổ sức khỏe hoặc phòng ngừa bệnh tật. Cây chạc ba (thuộc chi Allophylus) cũng là một trong những loại thảo dược dân gian được truyền tai với nhiều công dụng trị liệu.

Tuy nhiên, việc tùy tiện uống nước sắc loại cây này tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường. Các nghiên cứu hiện đại chỉ mới dừng lại ở mức thử nghiệm tiền lâm sàng, chưa có dữ liệu kiểm chứng an toàn dài hạn trên người, đặc biệt là với phụ nữ mang thai và người mắc bệnh suy gan, thận.

Cây chạc ba và thói quen truyền miệng

Cây chạc ba là tên gọi quen thuộc dùng để chỉ một số loài thuộc chi Allophylus, họ Bồ hòn (Sapindaceae). Theo ghi nhận phân loại học, chi Allophylus là một trong những chi lớn nhất thuộc họ Sapindaceae với hơn 255 loài đã được công nhận [1].

Trong kinh nghiệm dân gian tại nhiều quốc gia, các bộ phận của cây thường được thu hái, phơi khô rồi đun sắc lấy nước uống để chữa trị nhiều chứng bệnh khác nhau [2], [3]. Người dùng thường tin rằng các loại cây cỏ tự nhiên đều lành tính, uống thay trà mỗi ngày sẽ giúp mát gan, giải độc. Dù vậy, thói quen tự ý bốc thuốc, sắc nước uống đậm đặc trong thời gian dài khi chưa rõ độc tính có thể gây hại cho các cơ quan nội tạng.

Hoạt tính sinh học giải thích theo khoa học

Các nghiên cứu hóa thực vật hiện đại cho thấy các loài thuộc chi chạc ba chứa nhiều hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học mạnh mẽ [2]. Khi phân tích rễ và cành của cây Allophylus cobbe, các nhà nghiên cứu đã phân lập được một hợp chất tocotrienol mới là 5-hydroxy-8-methyltocotrienol cùng với 17 hợp chất đã biết khác [4].

Nghiên cứu về chiết xuất lá Allophylus cobbe cũng ghi nhận hàm lượng phenolic tổng số rất cao, đạt 91,96 ± 0,61 mg/g GAE ở dạng chiết xuất nước, đi kèm khả năng chống oxy hóa đạt 64,71 ± 0,15% tại nồng độ 100 mg/ml [3]. Ngoài ra, dịch chiết vỏ thân loài Allophylus africanus chứa nhiều dẫn xuất flavonoid, tiêu biểu là isovitexin-2''-O-rhamnoside chiếm gần 40% tổng lượng flavonoid đo được, cùng các hợp chất như vicenin-2 [1].

Chính các chất này tạo ra những tác động sinh lý rõ rệt lên tế bào sống. Hợp chất từ vỏ thân Allophylus africanus đã được ghi nhận có khả năng kích hoạt quá trình tự hủy apoptosis nội tại ở tế bào ung thư thông qua việc làm suy giảm điện thế màng ty thể và kích hoạt các enzyme caspase-9, caspase-3 [1]. Dù cho thấy tiềm năng dược lý, các chất có hoạt tính sinh học mạnh như vậy đòi hỏi cơ thể phải chuyển hóa và đào thải liên tục nếu đưa vào bằng đường uống.

Bằng chứng thực nghiệm nói gì về độc tính và dược tính?

Các báo cáo khoa học hiện có về chi thảo dược này chủ yếu là thử nghiệm in vitro trên dòng tế bào hoặc thử nghiệm in vivo trên động vật gặm nhấm, chưa có thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể người.

Năm 2021, một nghiên cứu độc tính cấp tính và tác dụng chống sốt rét của chiết xuất cây Allophylus spicatus đã được thực hiện trên động vật [2]. Nghiên cứu dùng 18 chuột cống trắng Wistar đực chia làm 6 nhóm (3 con/nhóm), gồm 1 nhóm đối chứng và các nhóm uống chiết xuất ở các mức liều 200, 500, 1000, 2000 và 5000 mg/kg thể trọng, theo dõi trong 14 ngày [2]. Kết quả thử nghiệm độc tính cấp và phân tích mô bệnh học mô gan khẳng định chiết xuất an toàn ở nồng độ dưới 1000 mg/kg thể trọng [2]. Thử nghiệm chống sốt rét trên 42 chuột nhắt trắng Swiss (chia 5 nhóm nhiễm bệnh gồm 6 con/nhóm và 3 nhóm đối chứng, dùng thuốc trong 3 ngày) cho thấy nhóm dùng 400 mg chiết xuất/kg kết hợp 25 mg chloroquine/kg thể trọng đạt hiệu quả cao nhất trong việc giảm ký sinh trùng Plasmodium berghei [2].

Về mặt kháng u, nghiên cứu năm 2017 đánh giá chiết xuất lá Allophylus cobbe trên hai dòng tế bào ung thư tuyến tiền liệt người là DU-145 và PC-3 [3]. Kết quả cho thấy chiết xuất gây độc chọn lọc và làm biến đổi hình thái tế bào ung thư undergoing apoptosis, với giá trị IC50 lần lượt là 431,10 ± 15,05 microg/mL đối với DU-145 và 362,08 ± 24,17 microg/mL đối với PC-3, trong khi không gây độc cho dòng tế bào bình thường MEF-L929 [3]. Bên cạnh đó, một nghiên cứu công bố năm 2003 tại Sri Lanka cũng ghi nhận chiết xuất từ cây Allophylus cobbe có hoạt tính chống ăn mạnh đối với ấu trùng tuổi 4 của bọ cánh cứng cánh màng Mexican bean beetle (Epilachna varivestis) [5].

Giới hạn nghiên cứu: Động vật không đồng nghĩa với con người

Mặc dù các dữ liệu ban đầu cho thấy chiết xuất từ một số loài chạc ba có hoạt tính chống sốt rét, chống oxy hóa hay diệt tế bào ung thư [2], [1], [3], người dân không nên nhầm lẫn giữa kết quả phòng thí nghiệm và công dụng thực tế trên người.

Thử nghiệm độc tính cấp trên chuột chỉ diễn ra trong vòng 14 ngày [2]. Khoảng thời gian ngắn này hoàn toàn không đủ để đánh giá nguy cơ tích lũy độc chất, tổn thương vi mô hoặc biến đổi chức năng cơ quan khi uống nước sắc rễ, lá cây chạc ba liên tục từ tháng này qua tháng khác. Hơn nữa, liều lượng an toàn trên chuột cống (dưới 1000 mg/kg thể trọng) không thể quy đổi trực tiếp thành số gam lá khô hay rễ khô dùng để nấu nước uống tại nhà [2]. Việc thiếu vắng các thử nghiệm dài hạn về độc tính bán trường diễn và độc tính di truyền trên người là một lỗ hổng an toàn lớn.

Hiểu lầm: "Cây cỏ thiên nhiên hoàn toàn vô hại"

Quan niệm cho rằng thảo dược tự nhiên uống bao nhiêu cũng được, không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều ca ngộ độc dược liệu. Chiết xuất thực vật luôn chứa hỗn hợp hàng chục hợp chất hóa học khác nhau tác động đa chiều lên các cơ quan [2], [4].

Tại nông thôn, nhiều người thu hái chạc ba dựa vào kinh nghiệm nhìn lá, vỏ ngoài rất dễ dẫn đến nhầm lẫn loài thực vật. Thêm vào đó, việc đun sắc thủ công không chuẩn hóa nhiệt độ, thời gian đun sắc có thể làm biến đổi các hợp chất hữu cơ, tạo ra những chất có hại cho đường tiêu hóa và tuần hoàn máu. Nước sắc thảo dược không thể thay thế phác đồ điều trị của y học hiện đại, và việc tự ý ngưng thuốc kê đơn để chuyển sang uống nước lá cây là vô cùng nguy hiểm.

Nhóm đối tượng cần tuyệt đối cẩn trọng

Do chưa có nghiên cứu chứng minh độ an toàn toàn diện, những đối tượng có thể trạng nhạy cảm hoặc chức năng chuyển hóa suy giảm cần tránh xa việc tự ý sử dụng nước sắc cây chạc ba:

  • Người bị suy giảm chức năng gan, thận: Gan và thận là hai cơ quan đảm nhiệm vai trò giải độc và bài tiết các chất ngoại sinh. Dù thử nghiệm mô học trên chuột cho thấy gan an toàn ở liều dưới 1000 mg/kg [2], người bệnh gan thận vốn đã tổn thương tế bào nhu mô sẽ rất dễ bị quá tải, dẫn đến hoại tử tế bào gan cấp tính hoặc suy thận tiến triển.
  • Phụ nữ đang mang thai và cho con bú: Hoàn toàn chưa có nghiên cứu khoa học nào đánh giá tác động của các loài chạc ba lên sự phát triển của phôi thai, dị tật bẩm sinh hay khả năng tiết qua sữa mẹ. Các hợp chất flavonoid và tocotrienol có hoạt tính cao có thể gây co thắt tử cung hoặc ảnh hưởng đến thai nhi [1], [4].
  • Trẻ nhỏ và người cao tuổi: Hệ thống enzyme chuyển hóa thuốc ở hai nhóm đối tượng này rất nhạy cảm, dễ gặp tác dụng phụ không mong muốn.
  • Bệnh nhân đang điều trị thuốc đặc trị: Các hợp chất trong dược liệu có thể tương tác với thuốc chuyển hóa qua gan, làm giảm hiệu lực hoặc tăng độc tính của thuốc điều trị bệnh mạn tính.

Khuyến nghị áp dụng thực tế an toàn

Người dân không nên tự ý tìm kiếm cây chạc ba mọc hoang dã để đào rễ, chặt cành sắc uống theo lời đồn [4]. Nếu có nhu cầu sử dụng các bài thuốc y học cổ truyền chứa vị thuốc này, bắt buộc phải có sự thăm khám, chỉ định liều lượng cụ thể và theo dõi từ các bác sĩ chuyên khoa hoặc lương y được cấp phép hành nghề.

Tuyệt đối không uống nước sắc quá đặc hoặc uống thay thế nước lọc sinh hoạt hàng ngày. Trong quá trình sử dụng bất kỳ loại thảo mộc nào, nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như buồn nôn, đau bụng, vàng da, mệt mỏi, nước tiểu sẫm màu, cần lập tức ngừng dùng và đến ngay các cơ sở y tế để kiểm tra chức năng gan thận. Luôn duy trì lối sống khoa học, ăn uống cân bằng, tập thể dục đều đặn và tuân thủ các phác đồ y khoa đã được chứng minh thay vì đặt trọn niềm tin vào các loại dược liệu chưa rõ tính an toàn.