Nhiều bậc phụ huynh có thói quen cho con uống một hộp nước trái cây trước bữa chính hoặc dùng làm bữa phụ vì nghĩ đây là nguồn vitamin tự nhiên tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, không ít cha mẹ bối rối khi thấy trẻ bỗng dưng ngậm cơm, quay đầu từ chối thức ăn và dần chững cân dù vẫn uống nước ép đều đặn mỗi ngày.
Thực tế, việc uống quá nhiều nước trái cây, đặc biệt là ngay trước bữa ăn, có thể làm giảm đáng kể lượng thức ăn đặc mà trẻ tiêu thụ [1]. Lượng đường tự nhiên như fructose và sorbitol trong nước ép không chỉ chiếm chỗ trong dạ dày bằng năng lượng rỗng mà còn có nguy cơ gây kém hấp thu đường tại ruột, dẫn đến rối loạn tiêu hóa và làm trẻ mất cảm giác thèm ăn các thực phẩm giàu dưỡng chất khác [1].
Thói quen dùng nước ép và nghịch lý trẻ biếng ăn
Nước trái cây vốn được xem là thức uống lành mạnh, ít chất béo và giàu dinh dưỡng trong thực đơn của nhiều gia đình [2]. Ở nhóm trẻ từ 2 đến 18 tuổi, nước ép chiếm tới 50% tổng khẩu phần trái cây tiêu thụ, và chiếm khoảng 1/3 lượng rau quả ở trẻ mẫu giáo [2]. Do trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ vốn có thiên hướng thích vị ngọt tự nhiên, các bé rất dễ uống nhiều nước trái cây hơn mức tối ưu nếu được cha mẹ cho phép [2].
Sự tiện lợi của các loại nước ép đóng sẵn cùng niềm tin rằng nước trái cây tốt cho sức khỏe khiến nhiều phụ huynh không ngần ngại cho con uống thoải mái [3]. Thậm chí, khi trẻ gặp khó khăn trong hành vi ăn uống hoặc biếng ăn, cha mẹ lại càng dùng nước ép như một giải pháp thay thế để bù đắp dinh dưỡng [1]. Thế nhưng, lượng nước trái cây tăng lên lại thường đi kèm với sự sụt giảm lượng sữa và tổng lượng thức ăn đặc trong ngày của trẻ [2].
Đường fructose và sorbitol tác động thế nào đến hệ tiêu hóa của trẻ?
Khác với trái cây nguyên quả, nước ép chứa rất ít chất xơ nên thực chất lại tạo cảm giác no kém bền vững hơn so với việc nhai trái cây tươi [3]. Tuy nhiên, khi uống với lượng lớn, lượng đường trong nước ép có thể đóng góp từ 25% đến 60% tổng năng lượng hàng ngày của trẻ [1]. Việc nạp một lượng calo lỏng quá lớn từ đường khiến trẻ ngang dạ, trực tiếp làm giảm lượng thức ăn tiêu thụ trong bữa chính và kéo theo sự sụt giảm nghiêm trọng lượng chất đạm (protein), chất béo cũng như các vi chất dinh dưỡng thiết yếu [1].
Bên cạnh việc chiếm chỗ của thức ăn giàu dinh dưỡng, thành phần đường trong nước trái cây còn tác động trực tiếp đến đường ruột. Nhiều loại nước ép, điển hình là nước táo (loại nước ép phổ biến ở trẻ dưới 5 tuổi), có tỷ lệ đường fructose cao hơn glucose và chứa chất tạo ngọt tự nhiên là sorbitol [4]. Hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện của trẻ nhỏ thường gặp tình trạng kém hấp thu carbohydrate (chất bột đường) đối với các loại nước ép có tỷ lệ fructose trên glucose cao và giàu sorbitol này [2].
Khi fructose và sorbitol không được hấp thu hết tại ruột non, chúng sẽ gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa hoặc tiêu chảy kéo dài ở trẻ mới biết đi [2]. Việc kiểm tra hơi thở bằng khí hydro ở những trẻ có tiền sử tiêu chảy hoặc khó chịu đường tiêu hóa do uống nhiều nước ép cũng xác nhận sự hiện diện của tình trạng kém hấp thu fructose và sorbitol [1]. Mặc dù cha mẹ hay truyền tai nhau việc đường fructose làm giảm tiết dịch tiêu hóa, các dữ liệu lâm sàng hiện tại chủ yếu ghi nhận cơ chế gây hại rõ rệt nhất là sự kém hấp thu đường tại ruột kết hợp với việc năng lượng từ nước ép choán chỗ của thức ăn đặc [1].
Nghiên cứu khoa học nói gì về việc trẻ uống nhiều nước trái cây?
Mối liên hệ giữa nước trái cây, cảm giác thèm ăn, tiêu hóa và sự tăng trưởng của trẻ đã được khảo sát qua nhiều nghiên cứu lâm sàng với những góc nhìn đa chiều.
Một nghiên cứu năm 1994 đã đánh giá 8 bệnh nhi từ 14 đến 27 tháng tuổi được chuyển viện vì chứng chậm tăng trưởng không do nguyên nhân thực thể (tức không phải do bệnh lý nội khoa) [1]. Kết quả ghi nhận tất cả các bé đều có cân nặng dưới bách phân vị thứ 5, mức thiếu hụt cân nặng theo chiều dài từ 11% đến 25%, hai bé giảm khối lượng cơ cánh tay, năm bé giảm dự trữ mỡ và ba bé bị thiếu sắt [1]. Khai thác khẩu phần ăn qua nhật ký 3 ngày cho thấy trẻ uống từ 12 đến 30 ounce (khoảng 350 đến gần 900 ml) nước trái cây mỗi ngày, chủ yếu là nước táo, khiến tổng năng lượng thực tế chỉ đạt 78% đến 92% mức khuyến nghị và làm giảm lượng thức ăn đặc [1]. Giới hạn của nghiên cứu này là cỡ mẫu nhỏ (8 trẻ), nhưng sau khi can thiệp giảm nước ép và tăng mật độ dinh dưỡng của bữa ăn, lượng năng lượng nạp vào của trẻ đã phục hồi lên mức 96% trở lên [1].
Về tác động lên đường ruột, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi có đối chứng năm 2005 đã theo dõi diễn tiến của trẻ nhỏ bị tiêu chảy cấp khi uống hai loại nước ép khác nhau so với uống nước lọc [4]. Một loại là nước nho trắng chứa lượng glucose và fructose tương đương nhau, loại kia là nước táo có tỷ lệ fructose cao hơn glucose và chứa sorbitol [4]. Kết quả trong ngày điều trị đầu tiên cho thấy nhóm trẻ uống nước ép bị mất phân nhiều hơn nhóm uống nước lọc, và mức độ mất phân cao nhất nằm ở nhóm uống nước táo [4]. Dù vậy, nhóm uống nước ép nạp được nhiều calo và tăng cân tốt hơn nhóm uống nước lọc, trong đó nước nho trắng cho đáp ứng tốt nhất [4].
Trái ngược với nguy cơ suy dinh dưỡng do bỏ bữa, một số nghiên cứu lớn lại cảnh báo nguy cơ thừa cân khi trẻ uống nước ép hàng ngày do dư thừa năng lượng lỏng. Nghiên cứu đoàn hệ tương lai năm 2006 theo dõi 2.801 trẻ từ 1 đến 4 tuổi thuộc các gia đình thu nhập thấp trong tối đa 48 tháng, đo chiều cao và cân nặng mỗi 6 tháng [5]. Ở những trẻ vốn đã thừa cân hoặc có nguy cơ thừa cân ban đầu, mỗi khẩu phần nước trái cây tăng thêm hàng ngày làm tăng chỉ số khối cơ thể (BMI z-score) thêm 0,009 độ lệch chuẩn mỗi tháng, trong khi việc cho trẻ ăn trái cây nguyên quả lại giúp giảm tích tụ mỡ [5]. Tương tự, một nghiên cứu năm 2017 phân tích dữ liệu dọc và cắt ngang trên nhóm trẻ từ 2 đến 5 tuổi cũng chỉ ra rằng trẻ 2 tuổi uống nước ép 100% hàng ngày có mức tăng chỉ số BMI lớn hơn và nguy cơ thừa cân cao hơn trong những năm mẫu giáo so với trẻ ít hoặc không uống [3].
Tuy nhiên, không phải nghiên cứu nào cũng tìm thấy tác động tiêu cực đến chiều cao và cân nặng. Một nghiên cứu năm 1999 trên 105 trẻ da trắng từ 24 đến 36 tháng tuổi đã phỏng vấn các bà mẹ hai lần và thu thập dữ liệu ăn uống trong 3 ngày để so sánh nhóm uống dưới 12 ounce/ngày và nhóm uống từ 12 ounce/ngày trở lên [6]. Kết quả không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào về chiều cao, chỉ số BMI hay chỉ số ponderal giữa hai nhóm [6]. Một nghiên cứu dọc khác công bố năm 1999 tại Đức (nghiên cứu DONALD) theo dõi 205 trẻ khỏe mạnh ở độ tuổi 3, 4 và 5 trong suốt 3 năm bằng nhật ký cân đo thực phẩm 3 ngày [7]. Dù ghi nhận việc uống nước trái cây tỷ lệ nghịch với tổng lượng thức ăn đặc và các đồ uống khác, nghiên cứu kết luận rằng ngay cả những trẻ uống quá nhiều nước ép (từ 12 fl oz/ngày trở lên) lặp lại qua các năm cũng không bị béo phì hay thấp còi [7].
Để làm rõ lợi ích của việc đổi nước ép sang trái cây tươi, một phân tích thứ cấp năm 2013 dựa trên dữ liệu khảo sát dinh dưỡng quốc gia (NHANES 2001-2004) đã mô hình hóa khẩu phần của 7.023 trẻ em từ 3 đến 18 tuổi [8]. Kết quả ước tính việc thay thế hoàn toàn nước ép bằng trái cây tươi nguyên quả giúp giảm 233 kJ năng lượng mỗi ngày (giảm 2,6%) và tăng thêm 4,3 gram chất xơ mỗi ngày (tăng 31,1%), dù chi phí ăn uống có tăng nhẹ khoảng 0,54 đô la mỗi ngày (tăng 13,3%) [8].
Hai mặt của vấn đề: Vì sao có trẻ sụt cân, có trẻ lại béo phì?
Nhìn vào các bằng chứng khoa học, có thể thấy nước trái cây tác động lên thể trạng trẻ theo hai hướng tưởng chừng trái ngược nhưng lại cùng chung một bản chất dinh dưỡng [3]. Khoảng 11% trẻ mẫu giáo khỏe mạnh tiêu thụ từ 12 fl oz (khoảng 355 ml) nước trái cây trở lên mỗi ngày, một mức được xem là quá nhiều [2]. Khi lượng nước ép này thay thế hoàn toàn thức ăn đặc và sữa trong khẩu phần của những trẻ vốn có hành vi ăn uống kém, tổng năng lượng và chất đạm bị thiếu hụt nghiêm trọng, dẫn đến suy dinh dưỡng, chậm tăng trưởng, giảm cơ và mỡ dự trữ [1].
Ngược lại, ở những trẻ vẫn ăn khẩu phần bình thường hoặc đã có sẵn cơ địa thừa cân, việc uống thêm nước ép hàng ngày lại cộng dồn năng lượng lỏng vào cơ thể [5]. Do nước ép thiếu chất xơ nên không tạo cảm giác no thực sự như khi nhai trái cây nguyên múi, khiến nhóm trẻ này dễ nạp dư thừa calo và tăng tích mỡ theo thời gian [3]. Đồng thời, sự gia tăng tiêu thụ nước ép còn kéo theo sự sụt giảm lượng sữa uống vào, làm dấy lên lo ngại về thiếu hụt vi chất vì hiện chỉ có khoảng 50% trẻ từ 1 đến 5 tuổi đạt mức khuyến nghị hàng ngày về canxi [2].
Những hiểu lầm phổ biến của cha mẹ về nước ép 100%
Hiểu lầm lớn nhất của phụ huynh là đánh đồng nước trái cây nguyên chất 100% với trái cây tươi và tách biệt hoàn toàn chúng khỏi nhóm đồ uống có đường như nước ngọt hay nước thể thao [3]. Chính vì nghĩ nước ép hoàn toàn vô hại, cha mẹ thường thiếu cảnh giác trước nguy cơ tăng cân không lành mạnh hoặc suy dinh dưỡng do biếng ăn mà không giới hạn lượng uống của con [3].
Một sai lầm phổ biến khác là cho trẻ uống nước trái cây bằng bình bú, dùng bình nước ép như một chiếc ti giả để dỗ trẻ nín khóc hoặc cho bú bình kéo dài [2]. Thói quen này không chỉ làm trẻ no ngang trước bữa ăn mà từ lâu đã được xác nhận là nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng sâu răng sữa hàng loạt ở trẻ nhỏ [2]. Ngoài ra, khi thấy con đi ngoài phân lỏng hoặc tiêu chảy, một số cha mẹ lại cho uống nhiều nước táo để bù nước mà không biết rằng lượng đường fructose và sorbitol cao trong đó có thể làm tăng lượng phân thải ra trong ngày đầu tiên [4].
Nhóm trẻ nào cần đặc biệt thận trọng khi uống nước trái cây?
Trước hết, nhóm trẻ từ 1 đến 2 tuổi đang có dấu hiệu chững cân, suy dinh dưỡng, thiếu sắt hoặc có cân nặng và chiều cao dưới chuẩn cần được kiểm soát chặt chẽ lượng nước ép [1]. Ở nhóm này, dạ dày của trẻ rất nhỏ, việc uống nước trái cây sẽ trực tiếp lấy mất phần dung tích dành cho cháo, cơm, thịt cá và sữa, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt năng lượng và đạm [1].
Nhóm thứ hai là những trẻ hay gặp các vấn đề về đường tiêu hóa như đầy bụng, khó tiêu, hoặc mắc chứng tiêu chảy mạn tính không đặc hiệu ở trẻ mới biết đi [2]. Với những bé đang bị tiêu chảy cấp, trẻ dưới 5 tuổi và đặc biệt là trẻ dưới 1 tuổi có nguy cơ biến chứng rất cao, cha mẹ cần ưu tiên dung dịch bù nước đường uống (oresol) và phục hồi dinh dưỡng đúng cách theo hướng dẫn y tế thay vì tự ý cho uống nhiều nước ép chứa sorbitol như nước táo [4].
Nhóm thứ ba là trẻ từ 1 đến 5 tuổi đang trong tình trạng thừa cân, có nguy cơ thừa cân hoặc có tốc độ tăng chỉ số BMI nhanh [5]. Nếu trẻ có bệnh nền về tiêu hóa, rối loạn hấp thu hoặc đang phải dùng thuốc điều trị, phụ huynh nên tham khảo ý kiến bác sĩ nhi khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng trước khi điều chỉnh chế độ ăn của con.
Cách cho trẻ dùng trái cây khoa học để không ảnh hưởng bữa chính
Giải pháp tối ưu và mang lại nhiều lợi ích sức khỏe nhất cho trẻ là chuyển từ việc uống nước ép sang ăn trái cây tươi nguyên quả [8]. Việc ăn cả múi hoặc miếng trái cây giúp trẻ nhận thêm lượng chất xơ dồi dào (tăng hơn 31% lượng chất xơ trong khẩu phần), hỗ trợ tiêu hóa tốt hơn và tạo cảm giác no tự nhiên hợp lý mà không gây dư thừa năng lượng [8]. Ở những trẻ có nguy cơ thừa cân, việc cha mẹ cho ăn trái cây nguyên quả thay vì uống nước ép đã được chứng minh là giúp giảm sự tích tụ mỡ thừa [5].
Nếu gia đình vẫn muốn cho trẻ dùng nước trái cây, cần tuyệt đối tránh cho uống ngay trước bữa ăn chính để không làm giảm tổng lượng thức ăn đặc của trẻ [7]. Không nên cho trẻ uống tới mức quá nhiều từ 12 fl oz (khoảng 355 ml) mỗi ngày trở lên [2]. Khi chọn nước ép, cần lưu ý các loại nước có tỷ lệ fructose cân bằng với glucose (như nước nho trắng) thường dễ dung nạp hơn cho đường ruột so với các loại giàu fructose và sorbitol như nước táo [4].
Tuyệt đối không cho trẻ uống nước trái cây bằng bình sữa, không ngậm bình đi ngủ để bảo vệ men răng của trẻ [2]. Thay vì dùng nước ép để giải khát, hãy tập cho trẻ uống nước lọc và duy trì lượng sữa phù hợp theo độ tuổi để đảm bảo cung cấp đủ canxi cho sự phát triển chiều cao [2].
Tóm lại, nước trái cây tuy có nguồn gốc tự nhiên nhưng nếu dùng sai thời điểm và quá liều lượng sẽ gây no giả do nạp nhiều năng lượng từ đường, gây kém hấp thu fructose tại ruột và làm trẻ bỏ bữa chính [1]. Cha mẹ nên ưu tiên cho con ăn trái cây tươi nguyên quả, dùng nước lọc để giải khát và giữ gìn thói quen ăn đa dạng thực phẩm để trẻ phát triển toàn diện [8].




