Bối cảnh và thắc mắc thường gặp về vị thuốc qua lâu
Nhiều phụ nữ mang thai thường tìm kiếm thảo dược tự nhiên để bồi bổ hoặc giảm các triệu chứng khó chịu. Tâm lý chung là cho rằng cây cỏ lành tính, ít tác dụng phụ hơn thuốc tây. Tuy nhiên, một số vị thuốc cổ truyền lại chứa hoạt chất sinh học cực mạnh, tiềm ẩn rủi ro lớn cho thai nhi.
Trả lời thẳng câu hỏi trên: Phụ nữ mang thai tuyệt đối không được dùng các vị thuốc từ cây qua lâu, đặc biệt là phần rễ củ (còn gọi là thiên hoa phấn) [3, 5]. Dược liệu này chứa protein trichosanthin có độc tính cao đối với nhau thai, gây sụt giảm hormone thai kỳ, kích thích co bóp tử cung dẫn đến sảy thai hoặc sinh non [3, 4, 6]. Tại Trung Quốc, hoạt chất chiết xuất từ rễ qua lâu thậm chí được dùng như thuốc phá thai trong y khoa [1, 6].
Cơ chế gây sảy thai của protein trichosanthin
Rễ củ cây qua lâu (tên khoa học Trichosanthes kirilowii, thuộc họ Bầu bí - Cucurbitaceae) chứa một loại protein kiềm có trọng lượng phân tử khoảng 18.000, được đặt tên là trichosanthin [1]. Hoạt chất này là một protein gây độc (toxic protein) có khả năng bất hoạt ribosome (bộ máy tổng hợp protein của tế bào) thông qua hoạt tính enzyme RNA N-glycosidase [2]. Để gây độc, trichosanthin vượt qua màng sinh học để đi vào tế bào chất [2]. Nghiên cứu năm 2001 chỉ ra lực tĩnh điện và tương tác kỵ nước đóng vai trò chính giúp trichosanthin bám vào màng phospholipid mang điện tích âm trong điều kiện axit, chịu ảnh hưởng bởi độ pH và lực ion [2].
Khi vào cơ thể mẹ, trichosanthin không tấn công ngẫu nhiên mà tác động trực tiếp và có độ đặc hiệu cao lên các tế bào nuôi (trophoblasts) của nhau thai [3, 5]. Cụ thể, nó gây biến tính hoại tử có chọn lọc ở lớp hợp bào nuôi (syncytiotrophoblasts) của gai nhau [1]. Các mảnh vỡ của tế bào bị phân hủy sẽ vón cục lại trong xoang máu, gây đông máu, cản trở tuần hoàn và dẫn đến hoại tử mô trên diện rộng [1]. Trong chuỗi phản ứng này, sự hoại tử gai nhau là phản ứng nguyên phát, còn cản trở tuần hoàn máu là hệ quả thứ phát [1].
Tổn thương cấu trúc nghiêm trọng ở nhau thai lập tức làm suy giảm chức năng nội tiết [1]. Nồng độ hormone HCG và các hormone steroid (như progesterone) giảm nhanh chóng xuống dưới ngưỡng dọa sảy thai [3, 4]. Sự đứt gãy mối liên hệ nội tiết bình thường và trao đổi chất giữa mẹ và thai nhi sẽ kích thích cơ thể tăng tổng hợp prostaglandin, khởi phát các cơn co bóp tử cung và đẩy thai ra ngoài [1].
Bằng chứng từ các nghiên cứu trên động vật và tế bào
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh khả năng chấm dứt thai kỳ của trichosanthin trên các mô hình động vật và nuôi cấy tế bào.
Một nghiên cứu công bố năm 1993 thử nghiệm tiêm trichosanthin vào phúc mạc chuột nhắt cái (dòng ICR) ở ngày thứ 1, 2 hoặc 3 của thai kỳ với các mức liều 0,10; 0,15; 0,20 hoặc 0,25 mg trên mỗi 25 g trọng lượng cơ thể [3]. Chuột được mổ khám vào ngày thứ 4 để kiểm tra phôi hoặc ngày thứ 11 để đánh giá tình trạng sảy thai [3]. Kết quả cho thấy ở liều 0,20 - 0,25 mg/25 g, tỷ lệ sảy thai lên tới 64 - 80% [3]. Ở ngày thứ 4, quá trình phát triển trước làm tổ bị rối loạn, nhiều phôi vẫn kẹt ở giai đoạn phôi dâu (morulae) trong ống dẫn trứng [3]. Những con chuột sảy thai hoàn toàn được cho giao phối lại sau 20 ngày thì các lần mang thai sau và chuột con sinh ra vẫn bình thường [3].
Ở giai đoạn giữa thai kỳ, một nghiên cứu năm 1979 ghi nhận tiêm một liều trichosanthin duy nhất vào phúc mạc đã gây sảy thai giữa kỳ ở chuột nhắt và thỏ [4]. Liều hiệu quả ở chuột mang thai ngày thứ 10 hoặc 11 là 50 microgam [4]. Trên thỏ, phản ứng phụ thuộc vào liều lượng và tuổi thai: liều 0,5 mg là đủ gây sảy thai ở thỏ mang thai 22 ngày, nhưng cần tới 2,0 mg cho thỏ mang thai 17 ngày [4]. So với prostaglandin-F2 alpha (một chất gây sảy thai đã biết), trichosanthin hiệu quả hơn và ít tác dụng phụ hơn trên thỏ [4]. Tuy nhiên, nghiên cứu năm 1979 này ghi nhận thuốc không làm sảy thai ở chuột cống (rat) và chuột đất vàng (hamster) dù dùng liều cao hơn, đồng thời không hiệu quả ở giai đoạn đầu thai kỳ trên cả 4 loài được thử nghiệm [4].
Một nghiên cứu khác cùng năm 1979 khảo sát chi tiết hơn về nội tiết khi tiêm một liều trichosanthin vào phúc mạc thỏ mang thai 6, 10, 17 hoặc 22 ngày (liều 2 mg/con) và chuột nhắt mang thai 11 ngày (liều 50 microgam/con) [5]. Kết quả, 100% thỏ mang thai 17 hoặc 22 ngày bị sảy thai trong vòng 48 - 72 giờ, kèm theo giảm nồng độ progesterone (delta 4P) trong máu trong vòng 24 giờ [5]. Ở chuột nhắt mang thai 11 ngày, liều 50 microgam gây chấm dứt thai kỳ trong vòng 96 giờ, làm giảm mạnh progesterone trong 24 giờ và giảm đều đặn tỷ lệ progesterone trên 20 alpha-dihydroprogesterone [5]. Đáng chú ý, việc tiêm bổ sung progesterone ngoại sinh hoặc kết hợp prolactin và HCG 2 lần mỗi ngày không thể đảo ngược tình trạng sảy thai do trichosanthin, mà chỉ làm chậm thời gian đẩy thai ra ngoài [5]. Điều này chứng tỏ sảy thai không đơn thuần do suy hoàng thể mà do độc tính trực tiếp lên nhau thai và phôi [5]. Ngược lại, ở thỏ mang thai 6 hoặc 10 ngày, liều 2 mg không gây sảy thai và không làm thay đổi đáng kể nồng độ progesterone [5].
Ở cấp độ tế bào, nghiên cứu năm 1986 kiểm tra tác động của trichosanthin chiết xuất từ thiên hoa phấn lên các dòng tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm (in vitro) [6]. Độc tính tế bào chưa rõ rệt sau 24 giờ xử lý, nhưng khi tiếp tục ủ thêm 48 giờ trong môi trường nuôi cấy đối chứng, độc tính diệt tế bào tăng lên mạnh mẽ [6]. Hoạt chất thể hiện khả năng tiêu diệt chọn lọc đối với tế bào ung thư nguyên bào nuôi (choriocarcinoma) và tế bào u hắc tố chuột [6].
Dữ liệu lâm sàng trên người và ứng dụng y khoa đặc thù
Trên người, trichosanthin tinh thể từng được nghiên cứu sử dụng trong bệnh viện để đình chỉ thai nghén. Một nghiên cứu công bố năm 1985 thực hiện tiêm trichosanthin tinh thể vào buồng ối để gây chuyển dạ cho 200 phụ nữ mang thai ở tam cá nguyệt thứ hai (3 tháng giữa) [7]. Tỷ lệ thành công gây sảy thai đạt tới 99,5%, với thời gian trung bình từ lúc tiêm đến khi sảy thai là 4,69 ngày (độ lệch chuẩn 1,15 ngày) [7]. Lượng máu mất trong quá trình chuyển dạ ít (dưới 100 ml) ở 90,5% trường hợp, và chỉ có 1 ca bị rách cổ tử cung [7].
Để giảm tác dụng phụ, các bác sĩ trong nghiên cứu năm 1985 đã tiêm bắp đồng thời thuốc chống dị ứng betamethason trong 3 ngày liên tiếp [7]. Tác dụng phụ giảm mạnh do thuốc tập trung trong buồng ối, ít đi vào máu và nhờ tác dụng kháng dị ứng của betamethason [7]. Nghiên cứu cũng lưu ý vì trichosanthin là protein thực vật nên có khả năng gây phản ứng dị ứng, kích thích cơ thể sinh kháng thể làm giảm hiệu quả nếu tiêm lặp lại [7].
Trong y học hiện đại tại Trung Quốc, do đặc tính phá hủy mô nhau thai mạnh mẽ, trichosanthin được cấp phép dùng làm thuốc phá thai kỳ đầu và kỳ giữa, điều trị thai ngoài tử cung, chửa trứng (hydatidiform mole), chửa trứng xâm lấn (invasive mole) và ung thư nguyên bào nuôi (choriocarcinoma) [3, 5, 6].
Lợi ích, giới hạn của bằng chứng và hiểu lầm thường gặp
Bằng chứng khoa học về độc tính thai kỳ của trichosanthin rất nhất quán từ cấp độ phân tử, tế bào, động vật cho đến lâm sàng trên người [1, 3, 5, 7]. Các dữ liệu đều khẳng định hoạt chất này phá hủy gai nhau và gây sảy thai với tỷ lệ rất cao [3, 7].
Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu nêu trên chủ yếu khảo sát trichosanthin ở dạng protein tinh khiết dùng qua đường tiêm (tiêm phúc mạc hoặc tiêm buồng ối) với liều lượng xác định [1, 4, 7]. Chưa có số liệu cụ thể trong các trích đoạn này về hàm lượng trichosanthin hấp thu qua đường uống khi sắc rễ hay quả qua lâu theo cách truyền thống. Dù vậy, bản chất gây hoại tử nhau thai của hoạt chất trong cây là cơ sở rõ ràng để chống chỉ định cho thai phụ [1].
Một hiểu lầm phổ biến là nếu có dấu hiệu dọa sảy thai sau khi dùng nhầm thảo dược, chỉ cần tiêm hoặc uống thuốc nội tiết (như progesterone) là giữ được thai. Nghiên cứu năm 1979 đã chứng minh việc bù progesterone hay HCG ngoại sinh hoàn toàn thất bại trong việc cứu vãn thai kỳ bị nhiễm độc trichosanthin, bởi nhau thai đã bị tổn thương cấu trúc trực tiếp [3, 4].
Ai nên thận trọng tuyệt đối?
Nhóm đầu tiên phải tránh tuyệt đối cây qua lâu và thiên hoa phấn là phụ nữ đang mang thai ở mọi giai đoạn (cả 3 tháng đầu và 3 tháng giữa đều ghi nhận tác dụng đình chỉ thai) [1, 6, 7].
Phụ nữ đang thả để canh có thai hoặc nghi ngờ mang thai cũng không nên sử dụng. Nghiên cứu năm 1993 cho thấy ngay từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 3 của thai kỳ, hoạt chất này đã làm rối loạn sự phát triển của phôi trước khi làm tổ và gây sảy thai [3].
Ngoài ra, những người có cơ địa dị ứng cần hết sức cẩn trọng. Bản chất trichosanthin là một protein lạ từ thực vật, có nguy cơ gây phản ứng dị ứng và tạo kháng thể trong cơ thể [7]. Người có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc điều trị khác cần hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng bất kỳ chế phẩm nào có chứa thành phần từ cây qua lâu.
Áp dụng thực tế để bảo vệ thai kỳ an toàn
Trong đời sống hàng ngày, thai phụ và gia đình cần kiểm tra kỹ thành phần các thang thuốc bắc, thuốc nam, trà thảo mộc hoặc viên uống đông dược. Cần lưu ý cả tên gọi "qua lâu" và tên vị thuốc từ rễ củ của nó là "thiên hoa phấn" (Tian-hua-fen hay Radix trichosanthis) [3, 5]. Tuyệt đối không tự ý sắc uống, đắp hay dùng dưới bất kỳ hình thức chế biến nào trong suốt thai kỳ.
Nếu đang trong quá trình chuẩn bị mang thai mà từng sử dụng vị thuốc này, chị em không cần quá hoang mang về khả năng sinh sản lâu dài. Dữ liệu trên động vật năm 1993 cho thấy sau khi ngưng thuốc và qua chu kỳ mới, các lần mang thai tiếp theo và thế hệ con sinh ra đều phát triển bình thường [3]. Tuy nhiên, tốt nhất nên ngưng dùng thảo dược không rõ nguồn gốc trước khi có kế hoạch mang thai.
Để có thai kỳ khỏe mạnh, phụ nữ mang thai nên duy trì chế độ ăn uống cân bằng, uống đủ nước và nghỉ ngơi hợp lý. Khi có bất kỳ triệu chứng bất thường nào như đau bụng, ra máu hoặc cần dùng thuốc điều trị bệnh, thai phụ bắt buộc phải thăm khám bác sĩ sản khoa, không tự ý tìm đến các bài thuốc truyền miệng.
