Cân tiểu ly trong gian bếp, ứng dụng đếm calo trên điện thoại cùng thói quen tính từng gram thịt, muỗng dầu đang trở thành nếp sống quen thuộc của nhiều người muốn giảm cân. Nhiều người tin rằng kiểm soát tuyệt đối từng con số nạp vào cơ thể là con đường duy nhất dẫn đến vóc dáng thon gọn và lối sống lành mạnh.

Tuy nhiên, việc cân đo thức ăn chi li mỗi ngày không phải phương pháp phù hợp cho tất cả mọi người. Với những cá nhân có tâm lý nhạy cảm hoặc tiền sử bất ổn về hành vi ăn uống, hành động này có thể vô tình trở thành ngòi nổ kích hoạt sự ám ảnh quá mức, nỗi lo sợ đồ ăn và các rối loạn hành vi ăn uống nguy hại.

Vòng xoáy tâm lý từ những con số trên chiếc cân

Khi việc ăn uống bị quy đổi hoàn toàn thành năng lượng calo hay số gram chất đạm, chất béo, mối quan hệ tự nhiên giữa con người và thực phẩm bắt đầu biến đổi. Bữa ăn gia đình ấm cúng dần biến thành một bài toán toán học đầy căng thẳng, nơi từng miếng thức ăn đều phải đưa lên bàn cân giám sát.

Sự phụ thuộc vào các thiết bị đếm calo dễ nuôi dưỡng lối suy nghĩ cực đoan, thường được gọi là tư duy "được ăn cả, ngã về không" đối với thực phẩm [1]. Người theo đuổi thói quen này thường gán nhãn thức ăn thành hai cực đối lập: thực phẩm "an toàn" (ít calo, dễ tính toán) và thực phẩm "nguy hại" (giàu calo, khó định lượng). Khi không thể cân đo chính xác khẩu phần, chẳng hạn trong các bữa tiệc ngoài hàng quán hay họp mặt bạn bè, họ rơi vào trạng thái bồn chồn, hoảng loạn và dằn vặt bản thân [1].

Nguy cơ tiềm ẩn từ ứng dụng và công cụ theo dõi calo

Sự phát triển của công nghệ hiện đại đã đưa các ứng dụng theo dõi calo vào túi áo của hàng triệu người mỗi ngày [2]. Dù được quảng bá như giải pháp quản lý sức khỏe tiện lợi, các công cụ này lại mang đến nhiều rủi ro tâm lý khó lường cho người dùng [3].

Một nghiên cứu thực hiện năm 2021 trên 1.357 người trưởng thành đã làm rõ mối liên hệ này [1]. Trong số các đối tượng tham gia, có đến 71% (964 người) từng sử dụng ứng dụng theo dõi calo và 39% (531 người) đang duy trì sử dụng [1]. Đáng chú ý, những người từng dùng ứng dụng ghi nhận mức độ rối loạn ăn uống hướng tới hình mẫu gầy gò hoặc cơ bắp cao hơn hẳn nhóm chưa từng sử dụng [1].

Phân tích sâu hơn về động cơ, nghiên cứu chỉ ra rằng những người dùng ứng dụng vì mục tiêu kiểm soát cân nặng hoặc vóc dáng dễ gặp các triệu chứng rối loạn ăn uống hơn nhóm dùng vì mục đích tăng cường sức khỏe hay phòng ngừa bệnh tật [1]. Cụ thể, nhóm theo đuổi cân nặng thường xuyên bị ám ảnh tâm trí về thức ăn, xuất hiện tư duy cực đoan, lo âu tột độ trước đồ ăn và thậm chí phát sinh các hành vi tống đẩy thức ăn tiêu cực [1]. Điều nghịch lý là càng cảm thấy ứng dụng "hữu ích" trong việc siết dáng, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng rối loạn ăn uống ở nhóm này lại càng nặng nề [1].

Mối liên hệ nguy hiểm này cũng được ghi nhận trong một nghiên cứu năm 2017 trên 493 sinh viên đại học [3]. Kết quả cho thấy việc sử dụng ứng dụng đếm calo đi kèm với sự gia tăng rõ rệt về mức độ bận tâm đến chuyện ăn uống và sự gò ép, kiêng khem khắt khe trong chế độ ăn hàng ngày, ngay cả khi đã kiểm soát chỉ số khối cơ thể (BMI) [3]. Ngoài ra, việc dùng thiết bị theo dõi vận động cũng liên quan độc lập đến các triệu chứng rối loạn ăn uống sau khi hiệu chỉnh theo giới tính và các hành vi ăn vô độ hay móc họng nôn trong tháng gần nhất [3]. Đối với một số cá nhân, những công cụ giám sát số liệu này thực chất đem lại tác hại nhiều hơn là lợi ích [3].

Gánh nặng tâm lý ở người từng mắc rối loạn ăn uống

Đối với những bệnh nhân đang điều trị hoặc người có tiền sử bất ổn về tâm lý ăn uống, chiếc cân thức ăn hay ứng dụng đếm calo không khác nào một cái bẫy tái phát bệnh [2].

Nghiên cứu năm 2018 tiến hành trên 105 người được chẩn đoán mắc rối loạn ăn uống đã khảo sát việc sử dụng ứng dụng đếm calo My Fitness Pal [2]. Khoảng 75% người tham gia cho biết họ từng sử dụng ứng dụng này trong đời sống thường nhật [2]. Điều đáng lo ngại là 73% trong số những người sử dụng nhận định chính ứng dụng đã góp phần kích hoạt hoặc làm trầm trọng thêm các triệu chứng bệnh của họ [2]. Mức độ nhận thức về tác hại tiêu cực từ ứng dụng cũng tương quan thuận với mức độ nặng của các triệu chứng rối loạn ăn uống mà họ phải chịu đựng [2].

Sự xuất hiện dày đặc của thông tin định lượng calo cũng tạo áp lực vô hình lên những người có tâm lý nhạy cảm [4]. Một khảo sát định tính công bố năm 2023 tại Anh trên 399 người trưởng thành có tiền sử hoặc đang mắc rối loạn ăn uống đã xem xét tác động của quy định dán nhãn calo trên thực đơn nhà hàng lớn [4]. Phần lớn người tham gia khẳng định việc nhìn thấy con số calo gây bất lợi lớn cho quá trình hồi phục của họ [4]. Quy định này tạo ra các rào cản xã hội tiêu cực, bao gồm việc làm rạn nứt các mối quan hệ khi đi ăn chung, gây cảm giác bị cô lập, tước đi sự tự do thoải mái và làm bùng lên sự phẫn nộ trước văn hóa ăn kiêng quá mức đang chi phối đời sống [4].

Tại một nghiên cứu tổng quan năm 2022, dữ liệu từ nhóm tác giả Larson và cộng sự trên 788 nam giới và 1.042 phụ nữ (độ tuổi trung bình 31,0) cũng ghi nhận hiện tượng tương tự [5]. Trong số những người chú ý đến thông tin calo, có tới 38,2% cho rằng thông tin đó không liên quan đến quyết định gọi món của mình [5]. Tuy nhiên, nhóm sử dụng nhãn calo để kiêng khem lại ghi nhận sự liên quan mật thiết với hành vi ăn vô độ ở phụ nữ, đồng thời làm tăng nỗi lo lắng về thể trọng, thói quen ăn kiêng và các hành vi kiểm soát cân nặng không lành mạnh ở cả hai giới [5]. Khi chia theo từng thể bệnh cụ thể, những người mắc chứng chán ăn tâm thần (AN) và chứng ăn vô độ kèm tống đẩy (BN) có xu hướng chọn thực đơn ít calo nhất, trong khi người mắc chứng ăn vô độ (BED) lại chọn các thực đơn có lượng calo cao hơn khi có sẵn nhãn dinh dưỡng [5].

Bẫy chú ý thị giác và thói quen ăn kiêng kéo dài từ tuổi trẻ

Việc thường xuyên cân đo và tính toán calo có thể làm biến đổi cách bộ não phân bổ sự chú ý đối với thực phẩm xung quanh.

Một nghiên cứu năm 2015 sử dụng công nghệ theo dõi ánh mắt trên 57 người trưởng thành đã phát hiện sự khác biệt rõ rệt trong phản ứng thị giác giữa người mắc chứng ăn vô độ và người bình thường [6]. Khi được xem các hình ảnh bối cảnh đời thực chứa đồ ăn nhiều calo và ít calo trong vòng 8 giây, những người mắc chứng ăn vô độ nhìn chăm chú vào các món ăn nhiều hơn đáng kể so với nhóm đối chứng [6]. Họ dán mắt vào đồ ăn sớm hơn ngay từ những giây đầu tiên và duy trì sự chú ý cao độ này xuyên suốt toàn bộ thời gian trình chiếu [6]. Việc tâm trí luôn bị kích hoạt bởi các con số dinh dưỡng và hình ảnh đồ ăn có thể thúc đẩy sự hình thành và duy trì các cơn ăn vô độ mất kiểm soát [6].

Hơn nữa, các thói quen ăn kiêng tiêu cực không phải là vấn đề tự nhiên biến mất theo thời gian [7]. Nghiên cứu theo dõi dọc quy mô lớn kéo dài 10 năm (Dự án EAT-III, từ 1999 đến 2010) trên 2.287 thanh thiếu niên và người trẻ (55% nữ, 52% da màu) đã đưa ra lời cảnh báo quan trọng [7]. Nhóm nghiên cứu gồm hai độ tuổi: nhóm trẻ tuổi hơn (tuổi trung bình ban đầu 12,8) và nhóm lớn tuổi hơn (tuổi trung bình ban đầu 15,9) [7].

Kết quả cho thấy tỷ lệ ăn kiêng và các hành vi rối loạn ăn uống duy trì ở mức cao và giữ nguyên hoặc tăng lên khi chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang giai đoạn trưởng thành [7]. Những cá nhân bắt đầu ăn kiêng và có hành vi ăn uống lệch lạc từ thời thiếu niên có nguy cơ cao tiếp tục duy trì các hành vi có hại này sau 10 năm [7]. Tính liên tục của các hành vi này đặc biệt rõ rệt ở cả nam và nữ bước từ giữa tuổi thiếu niên sang tuổi trưởng thành [7]. Điều này chứng minh rằng việc bắt đầu kiểm soát ăn uống quá sớm và cực đoan có thể đặt nền móng cho những tổn thương tâm lý kéo dài hàng thập kỷ [7].

Hậu quả khôn lường của rối loạn ăn uống đối với sức khỏe thể chất

Rối loạn ăn uống không đơn thuần là sự bất ổn về mặt cảm xúc hay tâm lý mà còn trực tiếp tàn phá cơ thể và làm gia tăng nguy cơ tử vong [8].

Một nghiên cứu theo dõi dựa trên hồ sơ bệnh án năm 2015 tại các cơ sở điều trị chuyên khoa trên 2.450 bệnh nhân trưởng thành (95% là nữ, độ tuổi từ 18 đến 62) cùng nhóm đối chứng phù hợp tỷ lệ 1:4 đã chỉ ra những con số giật mình [8]. Tỷ số rủi ro tử vong do mọi nguyên nhân ở người mắc chứng chán ăn tâm thần lên tới 6,51 so với người khỏe mạnh [8]. Tỷ lệ này ở bệnh nhân mắc chứng ăn vô độ kèm tống đẩy là 2,97 và ở bệnh nhân mắc chứng ăn vô độ là 1,77 [8].

Bên cạnh nguy cơ tử vong, các bệnh nhân mắc rối loạn ăn uống còn có tỷ lệ mắc các bệnh tự miễn cao hơn nhóm đối chứng [8]. Chứng ăn vô độ kèm tống đẩy và chứng ăn vô độ đơn thuần đều làm gia tăng đáng kể nguy cơ tiến triển thành bệnh đái tháo đường típ 2 [8]. Ngoài ra, tỷ lệ mang thai và sinh nở thành công ở nhóm bệnh nhân này cũng thấp hơn rõ rệt so với người khỏe mạnh [8]. Những con số này nhấn mạnh sự cần thiết của việc nhận diện sớm các yếu tố kích thích hành vi ăn uống bệnh lý, trong đó có việc ám ảnh cân đo quá mức [8].

Ai tuyệt đối không nên cân đo thức ăn từng gram mỗi ngày?

Dựa trên các dữ liệu khoa học, việc cân đo thức ăn chi li và sử dụng ứng dụng tính calo liên tục tiềm ẩn rủi ro rất lớn đối với các nhóm đối tượng sau:

  • Người có tiền sử hoặc đang mắc các rối loạn ăn uống như chán ăn tâm thần, chứng ăn vô độ tống đẩy hoặc ăn vô độ [2], [5]. Việc đếm calo có thể kích thích mạnh mẽ các triệu chứng bệnh quay trở lại hoặc trở nên nặng nề hơn [1], [2].
  • Trẻ vị thành niên và thanh niên trẻ tuổi [7]. Nhóm tuổi này rất dễ bị ảnh hưởng bởi áp lực hình thể; việc hình thành thói quen ăn kiêng gò ép từ sớm dễ để lại hệ lụy tâm lý kéo dài sang tuổi trưởng thành [7].
  • Người có động cơ kiểm soát cân nặng khắt khe vì lo sợ tăng cân hoặc bị ám ảnh bởi hình ảnh cơ thể mảnh mai, cơ bắp [1]. Nhóm này có nguy cơ cao phát triển nỗi sợ đồ ăn và các hành vi tống đẩy tiêu cực khi tính calo [1].
  • Người nhận thấy bản thân bắt đầu có dấu hiệu lo âu, tội lỗi mỗi khi ăn thực phẩm không rõ số lượng calo, hoặc né tránh các buổi tụ tập ăn uống cùng người thân, bạn bè vì không thể mang theo cân tiểu ly [1], [4].

Nếu thuộc các nhóm trên hoặc đang có bệnh nền mạn tính, người dân nên tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng lâm sàng thay vì tự ý áp dụng các phương pháp siết cân cực đoan.

Hướng tiếp cận ăn uống lành mạnh và bền vững hơn

Để duy trì cơ thể khỏe mạnh mà không vướng vào bẫy tâm lý của những con số, việc xây dựng mối quan hệ tự nhiên với thực phẩm là điều then chốt. Thay vì nhìn thức ăn dưới dạng calo khô cứng, mỗi người có thể áp dụng các phương pháp đơn giản và nhẹ nhàng hơn trong sinh hoạt thường ngày.

Một giải pháp thay thế hiệu quả đã được nhiều chuyên gia đề xuất là thực hành ăn uống trực giác [5]. Phương pháp này khuyến khích con người lắng nghe tín hiệu tự nhiên của cơ thể: ăn khi cảm thấy đói và dừng lại khi vừa đủ no, thay vì để các quy tắc bên ngoài chi phối [5].

Trong thực tế, bạn có thể áp dụng quy tắc trực quan đơn giản thông qua lòng bàn tay để định lượng khẩu phần mà không cần đến chiếc cân tiểu ly. Mỗi bữa ăn nên được phân chia hợp lý trên đĩa: một nửa đĩa là rau củ và trái cây tươi để cung cấp chất xơ và vitamin; một phần tư đĩa dành cho thực phẩm giàu đạm (tương đương kích thước một lòng bàn tay); và một phần tư còn lại là tinh bột phức hợp nguyên cám (tương đương kích thước một nắm tay).

Hãy duy trì việc uống đủ nước mỗi ngày, ăn đa dạng các nhóm chất và nhai chậm rãi để cảm nhận hương vị món ăn. Khi gạt bỏ chiếc cân tiểu ly ra khỏi bàn ăn, bạn không chỉ tiết kiệm được thời gian mà còn giải phóng tâm trí khỏi nỗi sợ hãi, tìm lại niềm vui thực sự trong từng bữa cơm.

Việc kiểm soát năng lượng có thể cần thiết trong một số giai đoạn ngắn của vận động viên thi đấu thể thao chuyên nghiệp. Tuy nhiên, đối với người bình thường tìm kiếm sức khỏe dài lâu, sự tự do tâm trí và một lối sống cân bằng, lắng nghe cơ thể chính là chìa khóa bền vững nhất.