Nhịp sống bận rộn khiến nhiều người cắt giảm bữa ăn đầu ngày để ngủ thêm hoặc kịp giờ làm. Ước tính hiện nay khoảng 20-30% người trưởng thành có thói quen bỏ bữa sáng [1]. Không ít người thắc mắc thói quen này chỉ gây đói tạm thời hay còn âm thầm làm hỏng hệ thống mạch máu nuôi não.

Câu trả lời từ các dữ liệu y khoa là có mối liên hệ rõ ràng. Nghiên cứu cho thấy bỏ bữa sáng có tác động bất lợi đến độ cứng động mạch và làm tăng gánh nặng xơ vữa tại động mạch cảnh [2]. Ngay cả khi không tính đến các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống, người thường xuyên nhịn ăn sáng vẫn có nguy cơ xơ vữa động mạch lan tỏa cao hơn người ăn sáng đầy đủ [3].

Cơ chế tác động lên mạch máu

Động mạch cảnh là nhánh mạch máu chính nằm ở hai bên cổ, đảm nhận nhiệm vụ đưa máu từ tim lên nuôi não. Khi thành mạch bị dày lên, cứng lại hoặc tích tụ mảng bám (còn gọi là xơ vữa), dòng máu lên não sẽ bị cản trở. Tình trạng này phát triển âm thầm trong nhiều năm mà không gây triệu chứng rõ rệt ở giai đoạn đầu, y học gọi là xơ vữa động mạch dưới lâm sàng [3].

Các nghiên cứu nhỏ theo thời gian ghi nhận thói quen bỏ bữa sáng đi kèm với nhiều rối loạn chuyển hóa tim mạch như tăng cân, rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp và tiểu đường [1]. Bốn nghiên cứu đoàn hệ lớn gồm nghiên cứu trên chuyên gia y tế Mỹ, nghiên cứu sức khỏe điều dưỡng, một nghiên cứu tại Nhật Bản và đoàn hệ EPIC tại Đức đều liên kết việc bỏ ăn sáng với suy giảm chuyển hóa đường và tăng nguy cơ tiểu đường tuýp 2 [4].

Rối loạn chuyển hóa do bỏ bữa sáng xuất hiện từ rất sớm, ngay ở lứa tuổi thanh thiếu niên [1]. Một nghiên cứu năm 2013 thực hiện trên 5.625 học sinh từ 10 đến 18 tuổi cho thấy nhóm bỏ ăn sáng có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa cao hơn đáng kể so với nhóm ăn sáng đều đặn [1]. Nhóm học sinh nhịn ăn sáng có chỉ số mỡ máu triglyceride, cholesterol xấu (LDL-C), huyết áp và chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình cao hơn hẳn [1].

Bên cạnh đó, một thí nghiệm trên động vật chỉ ra rằng việc nạp năng lượng cao vào bữa sáng giúp đảo ngược biểu hiện của các gen đồng hồ sinh học bị rối loạn và mang lại lợi ích kiểm soát mỡ máu [5]. Khi bỏ bữa sáng, các chỉ số mỡ máu và cân nặng xấu đi sẽ tạo điều kiện cho mảng xơ vữa hình thành tại các vùng mạch máu lớn như động mạch cảnh, động mạch chủ và động mạch chậu - đùi [1].

Bằng chứng trực tiếp tại động mạch cảnh và các mạch máu lớn

Bằng chứng rõ nhất về mối liên hệ giữa bữa sáng và mạch máu nuôi não đến từ nghiên cứu Corinthia công bố năm 2019 tại Hy Lạp [2]. Nghiên cứu cắt ngang này thực hiện trên 2.043 cư dân nhằm đánh giá độ đàn hồi thành mạch và tình trạng xơ vữa động mạch cảnh [2]. Các nhà khoa học đo vận tốc sóng mạch cảnh - đùi (cf-PWV) để đánh giá độ cứng động mạch, đồng thời đo độ dày lớp nội - trung mạc động mạch cảnh (cIMT) [2].

Người tham gia được chia thành 3 nhóm dựa trên tỷ lệ năng lượng bữa sáng đóng góp vào tổng năng lượng cả ngày: nhóm ăn sáng năng lượng cao (trên 20%, gồm 240 người), nhóm ăn sáng năng lượng thấp (từ 5-20%, gồm 897 người) và nhóm bỏ bữa sáng (dưới 5%, gồm 681 người) [2].

Kết quả đo đạc cho thấy vận tốc sóng mạch (cf-PWV) trung bình ở nhóm bỏ ăn sáng cao hơn đáng kể so với nhóm ăn ít và nhóm ăn nhiều năng lượng (lần lượt là 9,35 m/s so với 9,09 m/s và 8,76 m/s) [2]. Độ dày thành mạch cảnh (cIMT) trung bình ở nhóm bỏ bữa sáng cũng dày hơn rõ rệt so với hai nhóm còn lại (1,04 mm so với 0,99 mm và 0,92 mm) [2]. Ngay cả sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu và nguy cơ tim mạch, nhóm bỏ ăn sáng vẫn có độ dày động mạch cảnh và độ cứng mạch máu tăng cao [2].

Một công trình quan trọng khác là nghiên cứu PESA công bố năm 2017 tại Tây Ban Nha, phân tích cắt ngang trên 4.052 người trưởng thành từ 40 đến 54 tuổi chưa từng có biến cố tim mạch [3]. Nghiên cứu sử dụng siêu âm mạch máu và chụp cắt lớp vi tính tim để kiểm tra vùng mạch cảnh, mạch chậu - đùi và động mạch chủ [1].

Trong nghiên cứu PESA, 27% người tham gia ăn sáng năng lượng cao (trên 20% tổng năng lượng ngày), 70% ăn sáng năng lượng thấp (5-20%) và 3% bỏ bữa sáng (dưới 5%) [3]. Kết quả cho thấy, độc lập với các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống và chế độ ăn, thói quen bỏ bữa sáng làm tăng tỷ lệ mắc xơ vữa động mạch ngoài mạch vành lên 1,55 lần và tăng tỷ lệ xơ vữa động mạch lan tỏa nhiều vị trí lên 2,57 lần so với nhóm ăn sáng năng lượng cao [3].

Nguy cơ đột quỵ và tử vong tim mạch lâu dài

Không dừng lại ở tổn thương thành mạch, nhiều nghiên cứu theo dõi dọc trong thời gian dài đã đánh giá hậu quả cuối cùng là đột quỵ và tử vong. Một nghiên cứu tại Nhật Bản ghi nhận việc ăn sáng không thường xuyên làm tăng nguy cơ mắc tổng các bệnh tim mạch, tổng số ca đột quỵ và xuất huyết não, dù không làm tăng nguy cơ xuất huyết dưới nhện, nhồi máu não hay bệnh mạch vành ở quần thể này [4].

Tại Mỹ, một nghiên cứu đoàn hệ công bố năm 2019 đã theo dõi 6.550 người trưởng thành từ 40 đến 75 tuổi (tuổi trung bình 53,2; 48% là nam giới) trong thời gian từ 17 đến 23 năm [6]. Trong mẫu nghiên cứu này, 5,1% không bao giờ ăn sáng, 10,9% hiếm khi ăn, 25% ăn vài ngày và 59% ăn sáng mỗi ngày [6]. Sau 112.148 nhân-năm theo dõi với 2.318 ca tử vong (có 619 ca tử vong do tim mạch), nhóm không bao giờ ăn sáng có nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch cao gấp 1,87 lần và tử vong do mọi nguyên nhân cao gấp 1,19 lần so với nhóm ăn sáng hàng ngày [6].

Một nghiên cứu đoàn hệ khác tại Nhật Bản công bố năm 2022 theo dõi 85.319 nam và nữ từ 40 đến 79 tuổi không có bệnh tim mạch và ung thư tại thời điểm ban đầu [7]. Trong thời gian theo dõi trung vị 19 năm, có 5.870 ca tử vong do tim mạch [7]. So với người ăn bữa sáng kiểu truyền thống Nhật Bản, nhóm bỏ bữa sáng có nguy cơ tử vong do tổng bệnh tim mạch tăng 1,31 lần và tử vong do bệnh mạch vành tăng 1,77 lần [7]. Ngược lại, nhóm ăn sáng kết hợp kiểu Nhật và kiểu phương Tây giảm được nguy cơ tử vong do tổng bệnh tim mạch (tỷ số nguy cơ 0,64) và giảm tử vong do đột quỵ (tỷ số nguy cơ 0,67) [7].

Ngoài ra, nghiên cứu theo dõi 14 năm trên người trưởng thành Trung Quốc công bố năm 2023 cho biết ở nam giới, nạp nhiều năng lượng hơn vào bữa sáng có thể giảm nguy cơ đột quỵ [5]. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng ghi nhận mức năng lượng bữa sáng liên quan đến bệnh tim mạch lớn và đột quỵ độc lập với việc bỏ ăn sáng, nhưng không có mối liên hệ ý nghĩa với nhồi máu cơ tim [5].

Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng

Tổng hợp dữ liệu từ các nghiên cứu theo dõi dọc và cắt ngang cho thấy ăn sáng giúp giảm các yếu tố nguy cơ chuyển hóa tim mạch [4]. Bữa sáng giàu năng lượng có thể đóng vai trò bảo vệ mạch máu chống lại chứng xơ vữa [2].

Tuy nhiên, người đọc cần hiểu rõ giới hạn của các bằng chứng này. Một số nghiên cứu can thiệp đã đặt dấu hỏi về vai trò thực sự của việc bỏ bữa sáng trong quản lý cân nặng [4]. Một bài tổng quan năm 2020 cũng lưu ý rằng chưa có bằng chứng khẳng định việc bỏ ăn sáng dẫn đến phát triển xơ vữa động mạch dưới lâm sàng kéo theo tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong tim mạch như một chuỗi nhân quả trực tiếp đã được chứng minh hoàn toàn [1]. Bên cạnh đó, lợi ích của bữa sáng có thể liên quan đến chất lượng bữa ăn hơn là bản thân hành vi ăn hay nhịn, do còn những yếu tố gây nhiễu chưa biết rõ [5].

Để làm rõ tính nhân quả, một nghiên cứu ngẫu nhiên hóa Mendel (phương pháp dùng biến thể di truyền để đánh giá quan hệ nhân quả) công bố năm 2024 đã phân tích dữ liệu từ Ngân hàng Sinh học Anh (UK Biobank) và các nghiên cứu hệ gen lớn [8]. Kết quả chỉ ra không có mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa khuynh hướng di truyền bỏ bữa sáng với bệnh mạch vành, đột quỵ và tiểu đường tuýp 2 [8].

Thay vào đó, nghiên cứu năm 2024 này chứng minh bỏ bữa sáng có mối liên hệ nhân quả trực tiếp làm tăng chỉ số khối cơ thể (BMI), tăng tỷ lệ vòng eo trên vòng hông và làm tăng nồng độ cholesterol xấu (LDL-C) trong máu [8]. Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng liên hệ về mặt di truyền giữa bỏ bữa sáng với huyết áp, chỉ số đường huyết hay các loại mỡ máu khác [8]. Như vậy, chính việc tăng cân và tăng mỡ máu xấu LDL-C là cầu nối trung gian giải thích vì sao người bỏ ăn sáng trong các nghiên cứu dịch tễ lại dễ bị bệnh tim mạch và xơ vữa mạch máu [8].

Những hiểu lầm thường gặp

Hiểu lầm phổ biến nhất là nhịn ăn sáng sẽ giúp cắt giảm calo và giảm cân nhanh hơn. Thực tế, bằng chứng di truyền học năm 2024 khẳng định bỏ bữa sáng là nguyên nhân dẫn đến tăng chỉ số BMI và tích mỡ vùng bụng (tăng tỷ lệ eo/hông) [8]. Nhiều nghiên cứu đoàn hệ lớn cũng ủng hộ việc ăn sáng đều đặn giúp giảm nguy cơ béo phì và tăng cân [4].

Hiểu lầm thứ hai là chỉ cần ăn chút đồ ăn vặt lót dạ buổi sáng là đủ bảo vệ mạch máu. Trong các nghiên cứu PESA và Corinthia, những người nạp dưới 5% tổng năng lượng cả ngày vào buổi sáng (ví dụ chỉ uống một tách cà phê sữa nhỏ hoặc ăn miếng bánh mỏng) vẫn bị xếp vào nhóm bỏ bữa sáng [2] [3]. Nhóm ăn sáng năng lượng thấp (5-20% tổng năng lượng) vẫn có độ dày thành mạch cảnh cao hơn so với nhóm ăn sáng đủ năng lượng (trên 20%) [2].

Hiểu lầm thứ ba là người trẻ bỏ ăn sáng không sao, khi nào có tuổi mới cần lo. Nghiên cứu trên 5.625 học sinh từ 10 đến 18 tuổi đã chứng minh những biến đổi xấu về mỡ máu, huyết áp và cân nặng do bỏ ăn sáng xuất hiện ngay từ tuổi học đường [1].

Ai nên đặc biệt thận trọng?

Nhóm đầu tiên cần tránh bỏ bữa sáng là những người đã có sẵn các yếu tố nguy cơ chuyển hóa như thừa cân, béo bụng hoặc có chỉ số mỡ máu xấu (LDL-C, triglyceride) cao [1] [8]. Do việc bỏ bữa sáng tác động trực tiếp làm tăng BMI và LDL-C, thói quen này sẽ khiến tình trạng rối loạn mỡ máu và tích mỡ trở nên trầm trọng hơn [8].

Người ở độ tuổi trung niên trở lên (từ 40 đến 79 tuổi) cũng cần duy trì bữa sáng đều đặn. Đây là nhóm tuổi mà các nghiên cứu tại Mỹ, Tây Ban Nha và Nhật Bản ghi nhận sự gia tăng rõ rệt của tình trạng xơ vữa động mạch dưới lâm sàng cũng như nguy cơ tử vong tim mạch khi nhịn ăn sáng [3] [6] [7].

Trẻ em và thanh thiếu niên từ 10 đến 18 tuổi cũng là đối tượng cần được gia đình giám sát bữa sáng để phòng ngừa sớm hội chứng chuyển hóa [1]. Những người đang có bệnh nền tim mạch, tiểu đường hoặc đang dùng thuốc điều trị huyết áp, mỡ máu nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị trước khi muốn thay đổi số bữa ăn hoặc áp dụng các chế độ nhịn ăn.

Gợi ý áp dụng bữa sáng tốt cho mạch máu

Để bữa sáng thực sự phát huy vai trò bảo vệ thành mạch, lượng năng lượng nạp vào buổi sáng nên chiếm trên 20% tổng năng lượng của cả ngày [2] [3]. Nếu một người trưởng thành cần trung bình 2.000 calo mỗi ngày, bữa sáng nên cung cấp tối thiểu khoảng 400 calo trở lên thay vì chỉ ăn qua loa dưới 5% năng lượng [2] [3].

Về thành phần dinh dưỡng, có thể tham khảo mô hình bữa sáng kết hợp đa dạng thực phẩm. Nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy bữa sáng kết hợp giữa kiểu truyền thống (cơm, cá, rau, súp) và kiểu phương Tây (bánh mì, sữa, trứng) mang lại hiệu quả bảo vệ trước nguy cơ tử vong tim mạch và đột quỵ tốt hơn so với chỉ ăn một kiểu đơn điệu [7].

Khi chuẩn bị bữa sáng, cần chú ý cân đối nhóm chất bột đường (carbohydrate). Hướng dẫn chế độ ăn cho cư dân Trung Quốc năm 2022 khuyến nghị năng lượng từ chất bột đường trong cả ngày nên chiếm 50 đến 60% tổng năng lượng [5]. Tránh ăn bữa sáng quá thiên lệch về tinh bột tinh chế như trong khảo sát tại Trung Quốc (khi chất bột đường chiếm tới 76,4% năng lượng bữa sáng), mà nên kết hợp thêm đạm lành mạnh và chất xơ để kiểm soát đường huyết và mỡ máu tốt hơn [4] [5].

Tóm lại, bỏ bữa sáng thường xuyên có liên hệ mật thiết với tình trạng cứng mạch và dày thành động mạch cảnh thông qua việc thúc đẩy tăng cân và tăng cholesterol xấu [2] [8]. Duy trì một bữa sáng đều đặn, đủ năng lượng và cân bằng dưỡng chất là thói quen đơn giản giúp bảo vệ hệ thống mạch máu nuôi não. Tuy nhiên, bữa sáng lành mạnh cần được đặt trong tổng thể lối sống năng động và kiểm soát tốt các bệnh lý nền theo hướng dẫn của bác sĩ.