Nhiều người Việt có thói quen hái vài nhánh lá xương sông quanh vườn để hãm nước uống giải cảm, trị ho hoặc phơi khô tích trữ dùng dần cả năm. Tuy nhiên, không ít người băn khoăn liệu hãm cành lá tươi hay dùng lá đã qua phơi sấy khô thì ly trà sẽ giữ được nhiều dược tính và tinh dầu hơn.
Thực tế, lá tươi giữ trọn vẹn các hợp chất bay hơi nhạy cảm với nhiệt độ, trong khi quá trình làm khô không đúng cách rất dễ làm thất thoát một lượng lớn tinh dầu quý giá. Dù vậy, lá phơi sấy ở nhiệt độ thấp hoặc sấy đối lưu có kiểm soát lại mang đến sự tiện lợi, thời gian bảo quản lâu dài mà vẫn bảo tồn được nhóm hoạt chất chống oxy hóa và một phần tinh dầu chính.
Xương sông chứa những hoạt chất quý nào?
Cây xương sông, thuộc chi Blumea trong họ Cúc (Asteraceae), từ lâu đã nổi tiếng với mùi thơm nồng đặc trưng cùng nhiều công dụng trị liệu trong dân gian [1], [2]. Mùi hương và tác dụng sinh học của loài cây này phần lớn đến từ các thành phần bay hơi và hợp chất thực vật phong phú phân bổ ở phần thân, cành và lá [3], [2].
Nghiên cứu về thành phần hóa học của chi thảo dược này cho thấy tinh dầu chiết xuất từ lá chứa hàng chục hợp chất tự nhiên có giá trị, tiêu biểu là các nhóm terpenoid và sesquiterpenoid [4], [2]. Khi phân tích tinh dầu của loài Blumea balsamifera (cùng chi xương sông), các nhà khoa học đã nhận diện được 42 hợp chất khác nhau, chiếm đến 97,65% tổng diện tích pic sắc ký khí [2]. Các sesquiterpenoid chiếm ưu thế trong tinh dầu này chịu trách nhiệm cho các hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn và kháng nấm rõ rệt [2].
Ở một nghiên cứu khác tại Việt Nam trên lá Blumea densiflora var. hookeri, phân tích sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) đã ghi nhận 34 hợp chất, đại diện cho 98,7% thành phần tinh dầu [4]. Trong đó, hoạt chất chính là (E)-caryophyllene chiếm 15,3%, viridiflorol chiếm 5,5%, trans-dauca-4(11),7-diene chiếm 4,6%, spathulenol chiếm 4,4% và isolongifolan-7-alpha-ol chiếm 4,3% [4]. Những hoạt chất này không chỉ tạo nên hương vị cay ấm mà còn đem lại đặc tính kháng khuẩn trên nhiều chủng vi sinh vật [4].
Nhiệt độ phơi sấy làm hao hụt tinh dầu ra sao?
Nhiều người cho rằng cứ phơi nắng to hoặc sao vàng hạ thổ thật kỹ thì lá thuốc mới phát huy hết tác dụng. Đây là một quan niệm chưa hoàn toàn chính xác khi xét dưới góc độ bảo tồn tinh dầu và hoạt chất nhạy cảm nhiệt. Tinh dầu thực vật vốn là hỗn hợp các chất bay hơi, rất dễ bị oxy hóa, đồng phân hóa hoặc bốc hơi khi tiếp xúc với nhiệt độ cao và không khí mở [5].
Dẫn chứng từ các nghiên cứu về công nghệ sấy thảo dược, nhiệt độ và phương pháp làm khô có tác động trực tiếp đến sản lượng thu hồi tinh dầu [6], [5]. Khi nghiên cứu về quá trình làm khô thực vật có chứa tinh dầu, người ta ghi nhận hàm lượng tinh dầu ban đầu của hoa tươi là 0,21 g/100 g chất khô [6]. Khi áp dụng các kỹ thuật sấy khác nhau, hàm lượng này bị sụt giảm: sấy vi sóng chân không ở mức công suất 240 W giữ được 0,18 g/100 g, sấy đối lưu ở 50 độ C thu được 0,16 g/100 g, trong khi các phương pháp xử lý nhiệt cường độ cao hơn chỉ giữ lại 0,11 - 0,15 g/100 g [6]. Nghiên cứu cũng chỉ rõ mối liên hệ trực tiếp giữa cường độ nhiệt xử lý gia tăng với mức độ thất thoát tinh dầu [6].
Tương tự, các nghiên cứu chuyên sâu về sấy dược liệu giàu tinh dầu và terpenoid chỉ ra rằng nhiệt độ sấy quyết định tỷ lệ bảo tồn các cấu tử bay hơi [5]. Việc làm khô ở nhiệt độ thấp hoặc sấy thăng hoa giúp các hợp chất nhạy cảm với nhiệt như nerolidol hay spathulenol không bị phân hủy [5]. Thậm chí các cấu tử nhẹ có điểm sôi thấp như beta-farnesene và alpha-trans-bergamotene được bảo tồn nguyên vẹn, trong đó beta-farnesene giữ lại qua phương pháp nhiệt thấp cao hơn gấp 4 đến 6 lần so với các phương pháp sấy nhiệt thông thường [5]. Ngược lại, việc tiếp xúc với nhiệt độ cao không kiểm soát làm tinh dầu bay hơi nhanh chóng và dễ bị biến đổi cấu trúc do quá trình oxy hóa [5].
Các bằng chứng khoa học về chiết xuất chi Xương sông
Các nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm đã chứng minh nhiều tiềm năng sinh học của các hợp chất chiết xuất từ chi thảo dược xương sông (Blumea).
Một nghiên cứu công bố năm 2024 khảo sát tinh dầu từ phần trên mặt đất của Blumea eriantha D.C. (họ Asteraceae) cho thấy hiệu suất chiết xuất tinh dầu bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước đạt 0,36% [1]. Phân tích sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) xác định được 17 hợp chất, trong đó beta-caryophyllene oxide được tinh sạch bằng sắc ký cột [1]. Thử nghiệm trên màng phôi gà (CAM Assay) ghi nhận tinh dầu có tác dụng ức chế sự hình thành mạch máu phụ thuộc vào nồng độ với giá trị IC50 là 19,28 ppm [1].
Một nghiên cứu khác tiến hành năm 2024 tại Việt Nam đánh giá hoạt tính sinh học từ tinh dầu lá Blumea densiflora var. hookeri [4]. Kết quả thử nghiệm nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) cho thấy tinh dầu thể hiện khả năng kháng khuẩn đối với 6 chủng vi khuẩn và 1 chủng nấm thử nghiệm [4]. Đồng thời, thử nghiệm độc tính tế bào bằng phương pháp MTT trên hai dòng tế bào ung thư KB và A549 ghi nhận giá trị IC50 lần lượt là 1,40 ± 0,05 microgam/mL và 1,72 ± 0,04 microgam/mL [4].
Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2011 về tinh dầu Blumea martiniana đã định danh được 68 hợp chất, chiếm 98,55% tổng lượng tinh dầu, với các thành phần chính gồm linalool (10,36%), germacrene D (9,09%), borneol (6,24%) và gamma-terpinene (5,38%) [7]. Tinh dầu và 4 hợp chất chính này thể hiện hoạt tính diệt ấu trùng muỗi Anopheles anthropophagus ở giai đoạn tuổi 4 với các giá trị LC50 lần lượt là 46,86 mg/L (tinh dầu toàn phần), 35,87 mg/L (linalool), 44,61 mg/L (germacrene D), 35,89 mg/L (borneol) và 29,21 mg/L (gamma-terpinene) theo phương pháp chuẩn của WHO [7].
Ngoài ra, nghiên cứu năm 2023 về loài Blumea eriantha DC. chỉ ra sự khác biệt lớn về thành phần giữa các bộ phận của cây [3]. Phần thân lá chứa 52 hợp chất (chiếm 97,1%), giàu các hợp chất monoterpene chứa oxy với chrysanthenone chiếm 52,8% và 2,4-dimethylether phloroacetophenone chiếm 15,1% [3]. Trong khi đó, phần rễ xác định được 38 hợp chất (chiếm 95,5%), chủ yếu là dẫn xuất phenyl với 2,5-dimethoxy-p-cymene chiếm 31,3%, epi-alpha-cadinol chiếm 12,7% và gamma-cadinene chiếm 10,5% [3].
Thử nghiệm năm 2014 trên tinh dầu Blumea balsamifera cũng ghi nhận khả năng quét gốc tự do DPPH, thể hiện tính chống oxy hóa bên cạnh tác dụng kháng nấm gây bệnh thực vật [2]. Trong công nghệ bào chế, nghiên cứu năm 2014 đã khảo sát quy trình chiết xuất tinh dầu Blumea qua lôi cuốn hơi nước với tỷ lệ dung môi 1:6, thời gian chiết 8 giờ và nhiệt độ đổ khuôn thuốc đạn tối ưu từ 60 - 65 độ C nhằm hạn chế thất thoát hoạt chất [8].
Điểm mạnh và giới hạn của các dữ liệu hiện có
Những dữ liệu trên chứng minh chi thảo dược xương sông sở hữu thành phần hóa học rất đa dạng và có giá trị sinh học thực sự, đặc biệt là hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn và kháng nấm [4], [2].
Tuy nhiên, người tiêu dùng cần lưu ý rằng hầu hết các thử nghiệm hoạt tính hiện hành mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm (in vitro), trên các dòng tế bào ung thư nuôi cấy hoặc trên các vi sinh vật và ấu trùng [1], [4], [7]. Các thử nghiệm này chưa tương đương với thử nghiệm lâm sàng trực tiếp trên cơ thể người qua đường uống trà. Bên cạnh đó, các nghiên cứu sấy chủ yếu thực hiện trên các mẫu dược liệu khác nhằm so sánh tác động của nhiệt độ lên cấu trúc tinh dầu và terpenoid, từ đó cung cấp nguyên lý đối chiếu cho việc bảo quản thảo dược [6], [5]. Việc hãm trà xương sông không thể thay thế các phác đồ điều trị y khoa chuyên sâu.
Những hiểu lầm thường gặp khi phơi và hãm lá
Nhiều người tin rằng phơi lá càng khô giòn dưới nắng gắt trưa hè thì trà hãm càng đậm vị và bổ dưỡng. Trên thực tế, nắng gắt mang theo nhiệt độ cao và bức xạ tia cực tím làm phá hủy nhanh chóng các hợp chất bay hơi như nerolidol hay spathulenol, đồng thời thúc đẩy quá trình oxy hóa làm mất đi hương thơm đặc trưng [5].
Một hiểu lầm khác là dùng nước sôi 100 độ C đun sôi ùng ục lá xương sông trong nhiều phút. Việc đun nấu kéo dài ở nhiệt độ sôi sẽ khiến tinh dầu bay hơi hoàn toàn theo hơi nước, chỉ còn lại vị chát đắng của các hợp chất tanin nặng, làm giảm đáng kể hiệu quả làm ấm họng và thông đường thở của thảo dược [6], [5].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Dù xương sông là loại rau gia vị và cây thuốc quen thuộc, những người có cơ địa dị ứng với các loài thực vật thuộc họ Cúc (Asteraceae) cần cẩn trọng để tránh nguy cơ kích ứng hoặc mẩn ngứa [1].
Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ không nên tự ý dùng các loại trà thảo dược đậm đặc với lượng lớn khi chưa có sự tư vấn của chuyên gia y tế. Những người có bệnh lý nền mạn tính hoặc đang sử dụng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng các bài thuốc hãm lá thường xuyên nhằm tránh tương tác không mong muốn.
Cách áp dụng thực tế để giữ trọn hoạt chất
Để tận dụng tối đa lượng tinh dầu và hoạt chất quý, cách dùng tốt nhất vẫn là sử dụng lá xương sông tươi vừa hái [6], [5]. Lá tươi sau khi rửa sạch, để ráo nước, có thể vò nhẹ để phá vỡ các túi tiết tinh dầu rồi cho vào ấm [4]. Rót nước nóng khoảng 80 - 85 độ C, đậy kín nắp trong khoảng 5 - 10 phút để hạn chế tinh dầu bay hơi mất theo hơi nước [5].
Nếu buộc phải phơi khô để dự trữ, bạn nên chọn phương pháp sấy nhiệt độ thấp hoặc phơi trong bóng râm, nơi thoáng gió (phơi âm can), tránh ánh nắng chiếu trực tiếp [5]. Khi dùng máy sấy gia đình, nên cài đặt mức nhiệt vừa phải, khoảng 40 - 50 độ C để giảm thiểu sự phân hủy của các cấu tử nhạy cảm [6], [5]. Mỗi lần hãm chỉ nên dùng một nhúm nhỏ khoảng 5 - 10 g lá khô hoặc 3 - 5 lá tươi, uống ấm vào buổi sáng hoặc sau bữa ăn để làm ấm bụng và hỗ trợ giảm ho nhẹ.
Hãm lá xương sông tươi luôn là giải pháp tối ưu để thu được trọn vẹn hương vị và tinh dầu nguyên bản của thảo dược. Nếu sử dụng lá khô, hãy chú ý kiểm soát nhiệt độ chế biến ở mức vừa phải để không làm mất đi các hoạt chất sinh học quý giá vốn có.




