Nhiều phụ nữ mang thai truyền tai nhau kinh nghiệm uống nước dừa để con sinh ra da trắng, sạch ối và đủ nước. Tuy nhiên, không ít mẹ bầu lo lắng việc uống nước dừa sai thời điểm hoặc quá nhiều có thể gây tụt huyết áp, lạnh bụng hoặc dẫn đến tình trạng đa ối.

Thực tế, mẹ bầu hoàn toàn có thể uống nước dừa như một nguồn bổ sung chất lỏng tự nhiên khi cơ thể bước vào giai đoạn cần nhiều nước hơn, thường là từ tam cá nguyệt thứ hai (từ tháng thứ tư trở đi), khi các triệu chứng ốm nghén đầu kỳ đã giảm. Chưa có bằng chứng lâm sàng trên người xác định chính xác một mốc tháng tuyệt đối hay khẳng định nước dừa gây sẩy thai, tụt huyết áp hoặc đa ối, nhưng việc bổ sung nước đúng thời điểm và liều lượng hợp lý đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của thai nhi [1].

Cơ chế tác động của việc bù nước và nước dừa trong thai kỳ

Nước đóng vai trò thiết yếu cho quá trình trao đổi chất, điều hòa thân nhiệt, vận chuyển chất dinh dưỡng cùng chất thải, đồng thời duy trì mô cơ thể [2]. Đối với phụ nữ mang thai, nhu cầu nước tăng dần theo tuổi thai [3]. Việc cung cấp không đủ nước sẽ gây mất nước, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người mẹ và kết quả sinh nở [3]. Đặc biệt, bổ sung nước rất quan trọng đối với thai phụ bị thiểu ối hoặc có nguy cơ suy tuần hoàn tử cung - nhau thai [2].

Bên cạnh việc cung cấp chất lỏng, nước dừa còn chứa các thành phần sinh học tác động đến chuyển hóa. Chế độ ăn nhiều chất béo của người mẹ trong thai kỳ có thể lập trình bất lợi cho quá trình trao đổi chất và chức năng tim mạch của thai nhi, làm tăng nguy cơ béo phì và bệnh tim mạch khi trưởng thành [4]. Các dữ liệu bước đầu ghi nhận nước dừa có tác dụng hạ lipid máu (mỡ máu) khi có chế độ ăn nhiều chất béo, đồng thời tác động đến nồng độ hormone và chỉ số stress oxy hóa tại nhau thai [4].

Nghiên cứu khoa học nói gì về nước dừa và lượng nước uống khi mang thai?

Cho đến nay, nghiên cứu trực tiếp về tác động của nước dừa đối với thai kỳ chủ yếu mới dừng ở mô hình động vật. Một nghiên cứu công bố năm 2015 đã khảo sát tác động của việc uống nước dừa lên bảng mỡ máu, hồ sơ hormone, hình thái thai và nhau thai ở chuột cái Wistar mang thai ăn chế độ giàu chất béo [4]. Thiết kế nghiên cứu bao gồm 24 con chuột Wistar mang thai, chia đều làm 4 nhóm (mỗi nhóm 6 con) và điều trị hàng ngày từ ngày thai thứ 1 đến ngày thứ 21 [4]. Nhóm 1 dùng 1 ml/100g trọng lượng cơ thể nước cất; nhóm 2 dùng 1 ml/100g trọng lượng cơ thể nước dừa; nhóm 3 ăn chế độ giàu chất béo (gồm 70% thức ăn chuẩn và 30% bơ); nhóm 4 ăn chế độ giàu chất béo kết hợp 1 ml/100g trọng lượng cơ thể nước dừa [4]. Vào ngày thai thứ 21, chuột được mổ lấy thai và nhau thai để đo đạc [4]. Kết quả cho thấy nhóm ăn nhiều chất béo kết hợp uống nước dừa giảm đáng kể trọng lượng và các chỉ số hình thái của chuột con so với nhóm chỉ ăn nhiều chất béo (P < 0,05) [4]. Những thay đổi này đi kèm với sự cải thiện đáng kể hồ sơ mỡ máu của chuột mẹ, thay đổi nồng độ hormone và tăng peroxy hóa lipid ở nhau thai [4]. Nghiên cứu kết luận nước dừa có tác dụng bảo vệ chống lại những biến đổi do chế độ ăn nhiều chất béo của mẹ gây ra, tuy nhiên giới hạn là mới thực hiện trên chuột và cần thêm nghiên cứu để xác định tác động lâu dài [4].

Về vai trò của việc uống nước nói chung trong các giai đoạn thai kỳ, một nghiên cứu bệnh - chứng công bố năm 2018 sử dụng dữ liệu từ Nghiên cứu Phòng ngừa Dị tật Bẩm sinh Quốc gia (giai đoạn 2000-2005) đã phân tích mối liên hệ giữa lượng nước mẹ uống trong tam cá nguyệt đầu tiên và dị tật bẩm sinh [1]. Nghiên cứu khảo sát 14.454 ca có dị tật bẩm sinh lớn và 5.063 ca đối chứng thông qua phỏng vấn [1]. Kết quả ghi nhận lượng nước uống trung bình hàng ngày ở nhóm đối chứng là 4,4 cốc (mỗi cốc 8 ounce, tương đương khoảng 240 ml) [1]. Việc tăng lượng nước uống trong giai đoạn sớm của thai kỳ giúp giảm nguy cơ ước tính đối với nhiều loại dị tật bẩm sinh, bao gồm dị tật ống thần kinh (tật nứt đốt sống), khe hở môi - vòm miệng (sứt môi), dị tật cơ xương (tật nứt bụng, khuyết tật chi) và dị tật tim bẩm sinh (hội chứng thiểu sản tim trái, tắc nghẽn bên phải, hẹp van động mạch phổi) [1]. Tuy nhiên, hiệu quả này có sự thay đổi ở một số dị tật nếu người mẹ tiêu thụ nhiều đồ uống có đường [1]. Giới hạn của nghiên cứu là chưa làm rõ được cơ chế sinh học cụ thể và cần phân tích thêm [1].

Một nghiên cứu đoàn hệ tương lai khác công bố năm 2010 tại ba địa điểm ở Hoa Kỳ đã xem xét mối quan hệ giữa lượng nước uống hàng ngày (nước đóng chai, nước máy lạnh, tổng lượng nước máy và tổng lượng nước) với cân nặng sơ sinh, nguy cơ thai nhỏ hơn tuổi thai (SGA) ở trẻ sinh đủ tháng và nguy cơ sinh non [2]. Dựa trên dữ liệu thu thập ở tuần thai thứ 20 đến 24, cân nặng sơ sinh trung bình đã hiệu chỉnh tăng thêm lần lượt là 27 gram (khoảng tin cậy 95%: -34 đến 87), 39 gram (khoảng tin cậy 95%: -22 đến 99) và 50 gram (khoảng tin cậy 95%: -11 đến 110) ở ba nhóm có tổng lượng nước uống cao hơn (tương ứng mức trên 51-78, trên 78-114, và trên 114 ounce/ngày) so với nhóm uống thấp nhất (từ 51 ounce/ngày trở xuống) [2]. Tỷ số nguy cơ tương đối đã hiệu chỉnh đối với tình trạng thai nhỏ hơn tuổi thai (SGA) ở cả ba nhóm uống nhiều nước đều dưới 1,0 (dao động từ 0,6 đến 0,9) [2]. Giới hạn của nghiên cứu là không phát hiện được khuynh hướng đáp ứng theo liều lượng rõ rệt đối với sinh non hoặc SGA, và bản thân lượng nước tiêu thụ có thể bị nhiễu bởi các đặc điểm hành vi tiềm ẩn khác [2].

Ngoài ra, một đề cương nghiên cứu đoàn hệ quan sát tương lai công bố năm 2020 tại Bệnh viện Trực thuộc Đầu tiên của Đại học Y Hải Nam cũng được thiết kế trên 380 phụ nữ mang thai để đánh giá lượng nước nạp vào và trạng thái hydrat hóa [3]. Các mốc theo dõi được ấn định vào tuần thai 15-17, tuần 20-22, tuần 30-32, khi sinh và 42 ngày sau sinh thông qua nhật ký uống nước 24 giờ trong 7 ngày liên tiếp [3]. Nghiên cứu này đo dịch nội bào, dịch ngoại bào, độ thẩm thấu máu và nước tiểu buổi sáng, cùng các hormone thai kỳ (estradiol, prolactin, progesterone) và hormone liên quan đến hydrat hóa (copeptin) [3]. Vì là đề cương nghiên cứu thăm dò ban đầu nên công trình này mới dừng ở việc thiết lập phương pháp thu thập dữ liệu cơ bản mà chưa có kết quả thống kê cuối cùng [3].

Lợi ích và giới hạn của bằng chứng hiện tại

Các bằng chứng hiện có khẳng định việc uống đủ nước từ tam cá nguyệt đầu tiên đến giai đoạn tuần 20-24 mang lại lợi ích rõ rệt trong việc hỗ trợ cân nặng thai nhi và giảm nguy cơ một số dị tật bẩm sinh [1], [2]. Đối với nước dừa, lợi ích tiềm năng được ghi nhận trên mô hình động vật là hỗ trợ cải thiện mỡ máu của mẹ và hạn chế tình trạng thai tăng cân quá mức khi mẹ ăn chế độ quá nhiều chất béo [4].

Tuy nhiên, giới hạn lớn nhất là chưa có thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên phụ nữ mang thai để xác định liều lượng nước dừa cụ thể gây tụt huyết áp hay đa ối. Mọi dữ liệu về nước dừa mới dừng ở nghiên cứu trên chuột với liều 1 ml/100g trọng lượng cơ thể [4]. Bên cạnh đó, các nghiên cứu dịch tễ học về nước uống trên người vẫn lưu ý rằng việc tiêu thụ nhiều đồ uống có đường có thể làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc uống nước [1].

Những hiểu lầm thường gặp về việc uống nước dừa khi mang thai

Hiểu lầm phổ biến nhất là coi nước dừa như loại nước thần kỳ có thể thay thế hoàn toàn nước lọc để giúp sạch nước ối hoặc chữa thiểu ối. Thực tế, nước lọc và các đồ uống nền nước thông thường mới là nguồn cung cấp chất lỏng chính yếu hàng ngày cho thai phụ [1].

Hiểu lầm thứ hai là uống càng nhiều nước dừa và đồ uống ngọt thì con càng khỏe. Ngược lại, trong chế độ ăn nhiều chất béo, nước dừa làm giảm trọng lượng chuột con so với nhóm không uống [4], đồng thời việc nạp nhiều đồ uống ngọt có đường trong thai kỳ có thể ảnh hưởng bất lợi đến kết quả phòng ngừa dị tật bẩm sinh [1].

Ai nên thận trọng khi uống nước dừa?

Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu nếu đang gặp tình trạng nghén nặng, đầy bụng hoặc huyết áp không ổn định không nên ép bản thân uống nhiều nước dừa, mà nên ưu tiên uống đủ nước lọc (trung bình khoảng 4,4 cốc 240 ml mỗi ngày theo dữ liệu quan sát ở nhóm đối chứng khỏe mạnh) [1].

Những thai phụ có tiền sử tiểu đường thai kỳ, rối loạn mỡ máu, đang có chẩn đoán đa ối, thiểu ối hoặc suy tuần hoàn tử cung - nhau thai cần đặc biệt thận trọng [2]. Nước dừa tự nhiên vẫn chứa năng lượng và đường tự nhiên, không nên tính gộp hoàn toàn như nước lọc tinh khiết. Thai phụ có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ sản khoa trước khi bổ sung nước dừa thường xuyên vào thực đơn.

Cách áp dụng thực tế cho mẹ bầu

Về thời điểm, mẹ bầu nên bắt đầu uống nước dừa từ tháng thứ 4 (khoảng tuần 15-17 trở đi, đặc biệt giai đoạn tuần 20-24 và 30-32 khi nhu cầu nước của cơ thể tăng rõ rệt theo tuổi thai) [3], [2]. Trong 3 tháng đầu, mục tiêu quan trọng nhất là duy trì đủ lượng nước lọc hàng ngày để hỗ trợ quá trình hình thành cơ quan của thai nhi [1].

Về liều lượng và cách dùng, mẹ bầu chỉ nên uống nước dừa như một phần nhỏ trong tổng lượng chất lỏng hàng ngày, phần lớn lượng nước vẫn nên lấy từ nước đun sôi để nguội hoặc nước đóng chai đảm bảo vệ sinh [1], [2]. Nên uống nước dừa tươi nguyên chất, không pha thêm đường để tránh tác động tiêu cực của đồ uống nhiều đường [1]. Tránh uống quá nhanh hoặc uống lạnh vào buổi tối, kết hợp cùng chế độ ăn cân bằng, hạn chế chất béo bão hòa như bơ động vật để bảo vệ sức khỏe tim mạch và chuyển hóa cho cả mẹ và bé [4].

Đảm bảo đủ nước trong suốt thai kỳ là nền tảng khoa học giúp thai nhi phát triển cân nặng tối ưu và giảm thiểu rủi ro dị tật [1], [2]. Mẹ bầu có thể thưởng thức nước dừa ở mức độ vừa phải từ tam cá nguyệt thứ hai như một thức uống giải khát lành mạnh, song không nên lạm dụng thay nước lọc. Khi có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào về huyết áp hay thể tích nước ối, thai phụ cần tuân thủ hướng dẫn trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa.